Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Người Việt đang chia rẽ vì TPP

Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015
                        Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015
 
Dư luận báo chí tuần này đã có những ngày đầy phấn khởi với việc đàm phán TPP kết thúc. Nhưng khi dư âm các cuộc họp báo ở Atlanta Hoa Kỳ đã lắng xuống, cũng là úc báo chí Việt Nam chuyển tải những bất đồng sâu sắc, nếu không nói là chia rẽ về việc nhà nước hầu như chấp nhận mọi điều kiện, để được tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP.

Nếu như các giới chức chính phủ đánh giá tích cực về việc Việt Nam sẽ tăng Tổng sản phẩm nội địa GDP thêm hàng chục tỷ USD kể từ 2020, thì báo Thế giới Tiếp thị ngày 7/10/2015 đưa lên mạng bài viết với tựa bài mang tính vừa hài hước vừa mỉa mai “Đón TPP: Vui sao nước mắt lại trào”. Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì đây cũng là một câu trong một bài nhạc đỏ phổ biến sau ngày 30/4/75 ở miền Nam Việt Nam.

Chúng tôi xin trích một đoạn nhiều ý nghĩa trong bài viết trên Thế giới Tiếp thị:

“Với hơn 54 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên, theo con số mới nhất của tổng cục Thống kê, sinh kế của nhiều người sẽ được cải thiện khi TPP mở ra cánh cửa xuất khẩu rất lớn của một thị trường chiếm đến 40% GDP toàn cầu. Dệt may chẳng hạn, hiện có đến hơn 6.000 doanh nghiệp, với lực lượng lao động lên đến hơn 2,5 triệu người. Những con số xuất khẩu hàng chục tỉ USD đang làm rất nhiều người loá mắt, nhất là trong ngành dệt may, da giày, nông sản.

Đằng sau những con số tỉ đô đó là phần nhập khẩu đã ăn gần như trọn. Phần doanh nghiệp Việt Nam được hưởng chỉ là những đồng tiền gia công ít ỏi. Phần lời, theo một chuyên gia của ngành dệt may, chủ yếu ăn vào những đồng lương ít ỏi của công nhân, vì “nếu trả lương sòng phẳng thì làm giỏi lắm thì chỉ có huề vốn”.


Tác giả bài viết trên Thế giới Tiếp thị phê phán chính sách của Nhà nước là chậm chạp, trong khi áp lực của các FTA (Thỏa thuận thương mại tự do) thì đang đè nặng. Tờ báo mô tả điều gọi là sự hối hả của khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài FDI đổ vào Việt Nam, còn các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân, đang chật vật trước một nền kinh tế khó khăn, đối mặt với các vấn đề thuế phí bên trên, lương tối thiểu bên dưới.

Bài báo cũng so sánh hai hình ảnh tương phản, các nước thành viên khác trong TPP thì cố gắng tìm mọi cách để bảo vệ các nhà sản xuất của họ. Còn Việt Nam thì chú ý tới lợi ích xuất khẩu, đến doanh nghiệp nhà nước, đến công đoàn. Tác giả bài báo cũng mô tả về điều gọi là, khối doanh nghiệp dân doanh có vẻ bị lãng quên.

Ở kết đoạn kết, tác giả bài báo trên Thế giới Tiếp thị điện tử thể hiện cách mô tả đầy cảm xúc, hiếm thấy trên các bài viết về kinh tế: “Những màu hồng đang đang ngự trị như tám năm trước khi Việt Nam gia nhập WTO. Và rồi, theo thời gian, sắc hồng nhạt phai để lộ ra những khoảng đen và sắc xám. Và giọt nước mắt mừng vui trào ra trong khoảnh khắc ‘chiến thắng’ của TPP, biết đâu lại là dòng nước mắt tuôn rơi tủi hổ khi một lần nữa để cơ hội vụt bay, còn lại vô vàn thách thức.”

Bài viết trên Thế giới Tiếp thị được ghi nhận như là một điển hình của khuynh hướng hoài nghi về những lợi ích khi Việt Nam tham gia TPP. Tác giả bài báo không đề cập tới một khía cạnh đáng chú ý liên quan tới cải cách thể chế chính trị mà Việt Nam cam kết, trong các chương liên quan đến quyền cơ bản của người lao động, nói rộng ra là tự do nghiệp đoàn, tự do lập hội. Hoặc cam kết về tính công khai minh bạch, tạo sân chơi bình đẳng giữa Doanh nghiệp nhà nước và các thành phần doanh nghiệp khác.

Phải nhìn nhận khuynh hướng hoài nghi về tăng xuất khẩu dệt may một cách kỳ diệu trong TPP là rất có cơ sở. Hiện nay hàng dệt may Việt Nam vào Mỹ chịu thuế nhập khẩu trung bình khoảng 17%. Khi TPP có hiệu lực mức thuế này có thể giảm tới 0%, nhưng điều kiện để được hưởng miễn thuế quan thì hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ, Nhật Bản hay các nước TPP khác phải đáp ứng điều kiện khó nuốt đó là nguyên tắc tính từ sợi. Sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam sẽ phải được sản xuất từ sợi và vải tại Việt Nam hoặc nội khối TPP. Theo thông tin chính thức thì TPP dành cho Việt Nam cơ chế “nguồn cung thiếu hụt” cho phép sử dụng một số loại sợi và vải nhất định không có sẵn trong khu vực. Thông tin chưa nói rõ thời gian chuyển tiếp là bao lâu và với tỷ lệ sợi và vải sản xuất bên ngoài TPP là bao nhiêu.

Về vấn đề liên quan, TS Lê Đăng Doanh khi trả lời RFA đã nhận định:

SB: “Việc TPP yêu cầu có hàm lượng sợi trong TPP khoảng 70%, tôi không rõ là Việt Nam có thỏa thuận được điều kiện nào thuận lợi hơn hay không. Nhưng với tình hình như vậy thì tôi nghĩ nó cũng có cái lý của nó, đó là TPP muốn Việt Nam xuất khẩu hàng do Việt Nam sản xuất chứ không phải xuất khẩu hộ hàng của Trung Quốc. Vì vậy Việt Nam đang cố gắng nâng cao hàm lượng nội địa, thu hút thêm nhà đầu tư nước ngoài và đấy là những thách thức, nhưng thách thức đó nếu được xử lý tốt thì có thể trở thành những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng của Việt Nam”

Năm 2014 kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 24,5 tỷ USD nhưng chủ yếu là may gia công với nguyên liệu nhập từ Trung Quốc ít nhất 70%. Phần còn lại là từ Hàn Quốc, Đài Loan hay một số quốc gia khác mà chủ đơn hàng chỉ định nhà cung cấp.

Trước đây trong một cuộc phỏng vấn của chúng tôi ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hội Dệt may Thêu đan TP.HCM loại trừ khả năng Việt Nam nhập bông từ Mỹ về để kéo sợi và dệt vải vì giá thành sẽ rất cao. Tuy rằng cũng có thể nhập bông từ Trung Quốc, Ấn Độ hay Indonesia về để kéo sợi và dệt vải tại Việt Nam nhưng đó mới chỉ là một vế. Việt Nam chưa thể trong một sớm một chiều có đủ các nhà máy kéo sợi, nhà máy dệt vải, nhuộm và hoàn tất cho khối lượng xuất khẩu lớn lao của mình. Ông Diệp Thành Kiệt nhận định rằng, Nếu danh mục thiếu hụt tạm thời các bên thỏa thuận là 5 năm, thì trong kịch bản lạc quan, trong thời gian ấy có thể khá đủ để ngành dệt may tìm những nhà đầu tư hoặc tự đầu tư để có thể bù đắp được 70% sự thiếu hụt. Còn trong kịch bản thứ hai, mọi việc tiến hành chậm trễ thì chỉ có thể đáp ứng 30% vải phục vụ cho yêu cầu TPP.  Ông Diệp Thành Kiệt tiếp lời:

SB: “ Đáp ứng những kịch bản như thế nào thì nó còn tùy thuộc nhiều yếu tố mà không phải chỉ giải quyết riêng vấn đề sợi; mà còn phải giải quyết được khâu dệt vải và khâu nhuộm. Theo thông tin từ Hiệp hội Dệt may Việt Nam thì hiện nay với vải nội địa khâu nhuộm cũng chỉ đáp ứng 80%. Rõ ràng đây là một bài toán về mặt vĩ mô, cân đối giữa năng lực của kéo sợi, năng lực dệt vải và năng lực nhuộm, khá hóc búa cho các nhà điều hành ở tầm vĩ mô của ngành dệt may Việt Nam.”
Trong số những bài báo quan ngại về điều gọi là “lợi thì có lợi nhưng răng không còn” sau khi TPP có hiệu lực, dự kiến năm 2018, trang mạng Xã Luận. com có bài đặt tựa cũng đặc biệt không kém. Đó là “lo tảng đá làm trĩu cánh chim đại bàng.” Trang thông tin điện tử này đã phỏng vấn chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành và tờ báo đã lời ông để đặt tựa cho bài viết.

Ông Bùi Kiến Thành là một chuyên gia Việt Kiều có uy tín hiện sống và làm việc trong lĩnh vực tài chính ở Hà Nội. Ông Thành bày tỏ lo ngại sâu xa về hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh của Việt Nam, cũng như thủ tục hành chính nhiêu khê sẽ giống như tảng đá làm trĩu cánh con đại bang. Ông nói, nền kinh tế Việt Nam dù có phát triển nhưng vẫn như vận động viên thiếu dinh dưỡng, đội ngũ cán bộ thiếu kinh nghiệm. Trong TPP Việt Nam là đối tác của những nước tư bản hàng đầu, thậm chí có những luật chơi của họ mình còn chưa được biết, chưa được học.

Ông Bùi Kiến Thành nhận định rằng, khi áp dụng TPP doanh nghiệp Việt Nam có thể sẽ chết ngay trên sân nhà, vì hàng hóa ngoại nhập tràn vào mà các doanh nghiệp nội địa không có khả năng cạnh tranh.

Ông Bùi Kiến Thành cũng kết luận một cách đầy lo ngại trên trang điện tử Xã Luận. com, TPP là cơ hội cực kỳ quan trọng của Việt Nam, nhưng phải có nội lực thì mới làm được. Việt Nam vào TPP thì phải thay đổi tư duy rõ ràng. Ông Thành nhấn mạnh Việt Nam khi đã hội nhập sâu thì không có cách để quay lại khi thấy mình yếu thế.

Nhiều chuyên gia cả trong ngoài chính phủ đều kêu gọi Việt Nam đổi mới lần thứ hai một cách tích cực, và phải cải cách đồng bộ kinh tế lẫn chính trị thì mới có thể phát triển kinh tế bền vững.

Nam Nguyên

(RFA)

"Kẻ được, người mất" từ TPP

Việt Nam nằm trong số những nước được lợi nhiều nhất bởi lẽ TPP có thể giúp Tổng sản phẩm Quốc nội (GDP) của Việt Nam tăng 11% tới năm 2025. Trong khi đó, Trung Quốc - nền kinh tế lớn thứ hai thế giới - có lẽ nằm trong số những nước bị thua thiệt nhiều nhất.


Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) là văn kiện thương mại lớn nhất trong lịch sử bởi nó hạ thấp hàng rào thuế quan và nhiều hình thức bảo hộ khác tại 12 nước chiếm 40% nền kinh tế thế giới với tổng sản lượng kinh tế gần 30.000 tỷ USD. Nhà Trắng ước tính hiệp định này sẽ dỡ bỏ 18.000 loại thuế quan đối với các mặt hàng chế tạo, đồng thời cho phép mọi người dân - từ người nuôi tôm ở Việt Nam đến nông dân nuôi bò sữa ở New Zealand - được hưởng thuế quan thấp hơn khi tiếp cận các thị trường trên toàn khu vực Thái Bình Dương. Tuy nhiên, những người chỉ trích - đặc biệt là ở Mỹ - cho rằng thỏa thuận này sẽ khiến nhiều nhân công trong ngành chế tạo Mỹ bị mất việc làm, làm giảm các tiêu chuẩn về môi trường, đồng thời làm tăng giá thuốc. Mạng tin “Bloomberg” đã thống kê một số nét chính về những mặt lợi và hại mà TPP đem lại cho các thành viên tham gia hiệp định này:

Nhật Bản: Ngành chế tạo ô tô và phụ tùng ô tô Nhật Bản có lẽ được lợi nhiều nhất bởi họ được hưởng thuế quan thấp hơn khi xuất khẩu sang Mỹ, vốn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ô tô Nhật Bản. Tuy nhiên, Nhật Bản bị buộc phải giảm bớt một số hình thức bảo hộ cho nông dân trồng lúa, như lượng gạo nhập khẩu được miễn thuế phải tương đương 1% tổng số gạo mà nước này tiêu thụ. Nông dân nuôi gia súc có thể sẽ bị tác động nặng nề hơn cả khi mà thuế nhập khẩu thịt bò vào Nhật Bản trong 16 năm tới sẽ được từng bước giảm xuống còn 9% so với mức hiện nay là 38,5%, trong khi thuế nhập khẩu thịt lợn cũng sẽ giảm đáng kể.

Úc: Thỏa thuận này sẽ buộc Úc phải dỡ bỏ những khoản thuế nhập khẩu tổng trị giá khoảng 9 tỷ USD. Tuy nhiên, Úc sẽ được tiếp cận thị trường đường của Mỹ, trong khi Nhật Bản cũng sẽ giảm thuế đối với sản phẩm đến từ xứ sở chuột túi. Các sản phẩm hải sản và rau quả sẽ được hưởng mức thuế xuất khẩu thấp hơn, trong khi gạo và ngũ cốc sẽ được hưởng hạn ngạch xuất khẩu ưu đãi. Úc và New Zealand đã thành công trong việc gây áp lực buộc Mỹ phải thỏa hiệp trong vấn đề thời gian các công ty dược phẩm được bảo hộ độc quyền đối với các dữ liệu mô tả quá trình sản xuất thuốc. Thời gian bảo hộ ít nhất là 5 năm - thay vì 12 năm như yêu sách của các công ty dược phẩm Mỹ - có thể làm giảm giá thuốc, đồng thời làm tăng tính cạnh tranh. Thuế quan thấp hơn đối với mọi mặt hàng từ sắt thép tới dược phẩm, máy móc, giấy và phụ tùng ô tô sẽ làm lợi cho các nhà sản xuất Úc.

New Zealand: Có tới 93% khối lượng hàng hóa giao dịch của New Zealand với các nước đối tác TPP sẽ được giảm thuế, giúp nước này hàng năm tiết kiệm được khoảng 259 triệu đô la New Zealand (168 triệu USD). Ngành sữa, chiếm khoảng 1/4 lượng hàng xuất khẩu, sẽ tiết kiệm được khoảng 102 triệu đô la New Zealand mỗi năm. Các thị trường chủ chốt như Mỹ, Nhật Bản, Canada và Mexico vẫn duy trì một số mức thuế quan đối với hàng hóa của New Zealand. Chẳng hạn, trong 5 năm tới, Canada chỉ đồng ý ấn định hạn ngạch nhập khẩu các sản phẩm sữa tương đương 3,3% thị trường sữa của nước này. Thuế quan đối với thịt bò xuất khẩu của New Zealand cũng được dỡ bỏ, song Nhật Bản là ngoại lệ với việc thịt bò New Zealand vào thị trường Nhật Bản sẽ được giảm từ 38,5% xuống còn 9%. Thuế quan đối với tất cả các mặt hàng xuất khẩu khác như hoa quả, hải sản, rượu và thịt cừu cũng sẽ được hạ xuống mức bằng 0.

Việt Nam: Theo tổ chức Eurasia, Việt Nam nằm trong số những nước được lợi nhiều nhất bởi lẽ TPP có thể giúp Tổng sản phẩm Quốc nội (GDP) của Việt Nam tăng 11% tới năm 2025, với việc xuất khẩu trong thời gian tới sẽ tăng 28% do các công ty chuyển nhà máy đến quốc gia có nhân công giá rẻ này. Việc giảm thuế nhập khẩu ở Mỹ và Nhật Bản cũng sẽ làm lợi cho các nhà máy dệt may của Việt Nam và chi phí lao động thấp sẽ giúp nhà sản xuất Việt Nam giành được cơ hội kinh doanh từ tay đối thủ Trung Quốc. Tuy nhiên, những tác động của TPP đối với Việt Nam có thể bị hạn chế vì Việt Nam vẫn bị áp đặt những quy định ngặt nghèo về xuất xứ nguyên liệu. Ngành hải sản sẽ được lợi nhờ thuế nhập khẩu tôm, mực ống và cá ngừ từ Việt Nam được xóa bỏ (mức hiện nay là 6,4%-7,2%). Tuy nhiên, việc Việt Nam xóa bỏ các loại thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm dược (hiện trung bình vào khoảng 2,5%) sẽ dẫn đến cuộc cạnh tranh gay gắt hơn giữa các công ty trong nước và công ty nước ngoài. TPP cũng sẽ tăng cường việc bảo vệ bằng sáng chế, khiến các công ty Việt Nam bị hạn chế tiếp cận các sản phẩm mới, do đó khó có thể sản xuất những loại thuốc mới.

Malaysia: Các công ty quốc doanh của Malaysia có thể bị thiệt hại bởi TPP đòi hỏi công ty tư nhân cũng phải được hưởng quyền tiếp cận các hoạt động thu mua của chính phủ ngang với các công ty quốc doanh. Các nhà xuất khẩu hàng điện tử, hóa chất, dầu cọ và cao su sẽ là những người được hưởng lợi nhiều nhất. Malaysia hiện là nhà xuất khẩu dầu cọ lớn thứ hai thế giới và là nước trồng cao su nhiều nhất thế giới.

Trung Quốc: Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có lẽ nằm trong số những nước bị thua thiệt nhiều nhất. Việc Trung Quốc từ chối gia nhập TPP vô hình trung giúp Mỹ thắt chặt các mối quan hệ thương mại trên toàn khu vực đồng thời thúc đẩy cái gọi là chiến lược xoay trục sang châu Á. Hiện quan chức Trung Quốc đã phát tín hiệu muốn gia nhập hiệp định này trong tương lai. Trước mắt, theo nhà kinh tế Fielding Chen của "Bloomberg", các nhà xuất khẩu Trung Quốc có thể bị mất một số thị phần tại những nước đang phát triển, chẳng hạn như Việt Nam, vào tay Mỹ và Nhât Bản.

Theo Bloomberg

Văn Cường (gt)

(Nghiên Cứu Biển Đông)

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Nợ: Tổ mối làm mục ruỗng nền tảng kinh tế Trung Quốc

cctv_beijing_oma_220307_12


Không có phép ẩn dụ nào về những thách thức kinh tế mà Trung Quốc đang phải đối mặt tốt hơn là kiệt tác kiến trúc mang hơi hướng tương lai được thiết kế để làm trụ sở của Đài truyền hình nhà nước của quốc gia này, đài CCTV. Vài tháng trước khi tòa nhà này được hoàn thành năm 2009, các quan chức của đài đã cho phép tiến hành một màn bắn pháo hoa trái phép làm bùng lên một đám cháy thiêu rụi một tòa nhà nhỏ hơn trong khu phức hợp, vốn có hình chiếc nêm mà người dân Bắc Kinh đặt biệt danh là Tổ Mối.

Đám cháy đã làm trì hoãn việc hoàn thành trụ sở CCTV mãi tới năm 2012. Tổ Mối vẫn chưa được khánh thành và đưa vào sử dụng; sự toàn vẹn trong kết cấu tòa nhà nhỏ hơn đã bị ảnh hưởng bởi đám cháy nhưng nó không thể được tháo dỡ xuống do lo ngại ảnh hưởng tới tòa tháp lớn hơn. Phần còn tốt của kết cấu này không thể chống đỡ nổi gánh nặng của những phần xấu.

Hai tòa tháp này gợi nhớ tới nền kinh tế ngày càng theo kiểu “hai đường ray” của Trung Quốc: Một đường ray mới dựa trên dịch vụ và tiêu dùng chịu gánh nặng của một đường ray già nua, chậm chạp hơn được tạo thành từ các ngành công nghiệp như thép và khai khoáng, vốn là những ngành không hiệu quả và dư thừa công suất. Nằm vắt ngang hai đường ray là thị trường bất động sản của nước này, được đặc trưng bởi sự dư thừa công suất lớn ở các thành phố vừa và nhỏ, và nhu cầu mạnh mẽ ở các thành phố lớn.

Vấn đề này trở nên phức tạp hơn bởi giới lãnh đạo đất nước muốn duy trì mục tiêu tăng trưởng cao – ở mức 7% hiện nay – cũng như do sự phụ thuộc vào tín dụng để đạt được mục tiêu này. Do hệ thống tín dụng được thiết kế với sự bảo đảm ngầm của nhà nước, phần lớn các nguồn tài chính được phân bổ sai cho các lĩnh vực kém hiệu quả, mắc nợ cao của nền kinh tế. Kết quả là, các nền tảng của phép màu tăng trưởng Trung Quốc dần bị xói mòn bởi gánh nặng nợ nần vốn chưa cho thấy dấu hiệu thuyên giảm nào.

Việc chính phủ mất kiểm soát đối với nền kinh tế đã trở nên ngày càng rõ ràng. Sự tăng giá nhanh chóng rồi lao dốc sau đó của thị trường chứng khoán nước này đã khiến các nhà đầu tư bất an. Tuy nhiên, tiếng chuông cảnh tỉnh thực sự lại là nỗ lực muộn màng nhằm thanh tra các khoản vay và chi tiêu sai của các chính quyền địa phương.

Lần thanh tra đầu tiên của Văn phòng Kiểm toán Quốc gia nhằm ước tính quy mô nợ của các chính quyền địa phương đã phát hiện một khối nợ tương đương 26% GDP vào cuối năm 2010. Lần thứ hai vào giữa năm 2013 cho thấy mức nợ gia tăng lên tới 32% GDP. Và nghiên cứu mới đây nhất do Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc tiến hành cho thấy, khoản nợ này đã tăng vọt lên tới 47,5% GDP vào cuối năm 2014.

Tháng 11 năm 2013, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đề ra một chương trình cải cách nhằm tăng cường vai trò của thị trường trong nền kinh tế Trung Quốc. Việc này được kỳ vọng sẽ giải quyết vấn đề nguồn vốn bị phân bổ sai, điều có vẻ đang dẫn tới sự gia tăng nợ đầy bất ổn.

Nợ của chính quyền địa phương đã trở thành một bài kiểm tra quan trọng (đối với chính quyền Trung Quốc). Đầu năm 2015, chính quyền trung ương đã công bố kế hoạch chuyển đổi các khoản vay ngắn hạn có lãi suất cao của các chính quyền địa phương thành trái phiếu dài hạn. Bằng việc tăng kỳ hạn trả nợ, chính quyền trung ương hy vọng sẽ giảm bớt những khó khăn tài chính cho các chính quyền địa phương và cho phép họ theo đuổi các gói kích thích tài chính.

Khi các ngân hàng của Trung Quốc không muốn chấp nhận mức lãi suất thấp được đưa ra cho các trái phiếu mới, mục tiêu tăng cường vai trò của thị trường trong nền kinh tế đã bị gạt ra ngoài. Chính phủ đã buộc các ngân hàng phải thực hiện việc hoán đổi nợ. Không có gì đáng ngạc nhiên khi các ngân hàng đột nhiên trở nên sợ rủi ro. Các chính quyền địa phương phát hiện ra rằng ngay cả khi thanh khoản được cải thiện thì các ngân hàng vẫn không muốn cho các chính quyền địa phương nhận các khoản vay mới.

Trong khi đó, sự sụt giảm trong thị trường bất động sản đã cướp mất nguồn doanh thu chính của các chính quyền địa phương: bán đất. Do đó đã diễn ra một trong những diễn tiến gây sốc hơn trong việc hoạch định chính sách kinh tế Trung Quốc thời hiện đại: Lời kêu gọi tiến hành các biện pháp kích thích kinh tế của chính phủ đơn giản là đã phị phớt lờ.

Trung Quốc dường như đang rơi vào một chiếc bẫy mà nó đang không ngừng tìm cách né tránh. Vấn đề nợ của nước này có vẻ sẽ trở nên tệ hơn nữa khi chính phủ phớt lờ cải cách để ưu tiên các mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn. Trở ngại này đối với nền kinh tế sẽ gia tăng khi các nguồn lực tiếp tục được dành cho việc duy trì các doanh nghiệp kém hiệu quả. Các ngân hàng sẽ càng trở nên đề phòng rủi ro hơn khi họ tìm cách dấu các khoản nợ xấu và né tránh việc giảm giá trị tài sản (write-downs) trên bảng kế toán của mình.

Chính phủ Trung Quốc đã tìm cách tăng thanh khoản thông qua việc giảm kiểm soát đối với chu chuyển vốn. Làm như vậy không những làm suy yếu hơn sự kiểm soát của chính phủ đối với nền kinh tế, mà còn tạo ra nguy cơ của một cuộc khủng hoảng tài chính toàn diện có thể nhấn chìm các nước láng giềng và các thị trường mới nổi khác. Ở thời điểm này (19/8), việc đồng đô-la tăng giá đang tạo thêm khó khăn cho kinh tế Trung Quốc khi đồng tiền của nước này cũng đã tăng giá so với đồng tiền các nước trong khu vực (do Trung Quốc neo đồng nhân dân tệ với đồng đô la Mỹ – NHĐ). Do đó, các nhà chức trách Trung Quốc đã quay trở lại bản năng cũ bằng cách phá giá đồng tiền của mình.

Điều đó là chưa đủ. Thị trường bất động sản của Trung Quốc đang lao dốc. Các thị trường cổ phiếu của nước này đã bị mất tín nhiệm. Và nền kinh tế của nó dường như đang ngày càng chậm chạp. Kết quả là, khối lượng tiền tiết kiệm lớn của Trung Quốc đang tìm cách di chuyển dần ra nước ngoài. Nếu so với quy mô nợ nước ngoài của Trung Quốc và khối lượng tiền có thể bị di chuyển ra nước ngoài thì ngay cả 3.700 tỷ đô-la dự trữ ngoại tệ của nước này cũng bắt đầu trở nên nhỏ bé.

Giống như những con mối, các khoản nợ có một khả năng độc đáo trong việc làm mục ruỗng nền tảng của một nền kinh tế. Khi những con mối này bị phát hiện ra thì thường mọi thứ đã quá muộn. Nếu Trung Quốc muốn tránh được thiệt hại, nước này sẽ cần tập trung vào quá trình giảm nợ, chỉnh sửa các cơ chế phân bổ vốn của mình và trì hoãn việc bãi bỏ kiểm soát vốn. Nền kinh tế của nước này có thể sẽ phải chịu một cuộc khủng hoảng tăng trưởng trong vòng 12-24 tháng sắp tới. Mức độ nghiêm trọng của nó sẽ được xác định bởi việc liệu chính phủ có thực hiện các điều chỉnh khó khăn ngay lập tức hay không, hay cũng giống như Nhật Bản những năm 1990, họ lại cố gắng mong ước những con mối nợ sẽ tự biến mất.

Nguồn: Gene Frieda, “China’s Debt Termites”, Project Syndicate, 19/08/2015.

Biên dịch: Trần Văn Thắng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Gene Frieda là một nhà chiến lược toàn cầu của Công ty Quản lý Vốn Châu Âu Moore.

Copyright: Project Syndicate 2015 – China’s Debt Termites

(Nghiên Cứu Quốc Tế)


Vụ kiện thịt gà Mỹ của Việt Nam: Mặt trái của TPP

Người tiêu dùng mua thịt gà tại một siêu thị ở Hà Nội.
                                      Người tiêu dùng mua thịt gà tại một siêu thị ở Hà Nội.

Chuyên gia nghiên cứu Mỹ nhận định vụ kiện bán phá giá thịt gà Mỹ, mà Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ cho biết sẽ tiến hành vào tháng tới, chứng minh tác động của sự tranh gay gắt trong thương mại toàn cầu khi Việt Nam gia nhập ‘sân chơi’ TPP.

Ông Lê Văn Quyết, Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Á cho báo giới biết hôm 5/10 rằng hiệp hội đang hoàn tất các thủ tục để có thể chính thức khởi kiện bán phá giá gà Mỹ tại Việt Nam trong tháng tới. Theo hiệp hội này, giá thịt gà Mỹ bán ra ở thị trường Việt Nam chỉ 23.000/kg, rẻ bằng nửa giá gà nội địa và chỉ khoảng ¼ giá thịt gà bán ở Mỹ.

Thịt gà đông lạnh Mỹ đã khiến cho các doanh nghiệp chăn nuôi gà ở Việt Nam bị thiệt hại đến 2.700 nghìn tỉ đồng trong vòng 16 tháng qua. Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ cho biết nhiều nông dân Việt Nam đã bỏ nghề nuôi gà vì không cạnh tranh nổi với gà nhập từ Mỹ.

Ông Murray Hiebert, một chuyên gia nghiên cứu cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) của Mỹ được báo Bloomberg trích lời nói: “Thịt gà nhập khẩu có giá thấp từ Mỹ đang chứng minh  cho Việt Nam thấy tác động cạnh tranh gay gắt trong thương mại toàn cầu”.

Việt Nam được đánh giá là nước được hưởng lợi nhiều nhất trong 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tuy nhiên, một số chuyên gia cảnh báo về khả năng một số lĩnh vực ở Việt Nam sẽ gặp phải những ‘bài học cay đắng’ khi gia nhập vào sân chơi thương mại toàn cầu.

Chuyên gia nghiên cứu hàng đầu về Đông Nam Á Murray Hiebert nói thêm với Bloomberg: “Việt Nam đang học được rằng trong khi một số sản phẩm hàng may mặc thắng lớn trên thị trường toàn cầu, thì những sản phẩm khác, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, kết cục có thể sẽ mất đi các thị trường mà các nhà sản xuất lớn có lợi thế về quy mô”.

Sau khi sang Mỹ tìm hiểu về thị trường chăn nuôi gà ở Mỹ hồi cuối tháng rồi, ông Âu Thanh Long, Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ, giá bán thịt gà Mỹ ở Việt Nam là đang bán phá giá khoảng 29% so với sản phẩm cùng loại bán trên thị trường Mỹ. Ông này cho rằng giá thành sản xuất thịt gà Mỹ khoảng 26.000 – 27.000 đồng, không chênh lệch nhiều so với giá thành gà Việt Nam. Do vậy giá bán gà Mỹ về Việt Nam chỉ 18.000 đồng là bán phá giá hơn 30%.

Nhưng các nhà sản xuất gà ở Mỹ nói việc so sánh giá như vậy là sai vì hiệp hội đang so sánh giá của loại sản phẩm cao cấp, không kháng sinh, được Cơ quan Nông nghiệp và Thực phẩm Mỹ (USDA) chứng nhận với các sản phẩm chân gà góc tư đông lạnh xuất khẩu theo lô.

Bloomberg trích lời ông James Sumner, Chủ tịch của Hội đồng Xuất khẩu gia cầm và trứng của Mỹ nói: “Họ đang so sánh những sản phẩm đắt tiền nhất ở Mỹ với các sản phẩm rẻ tiền nhất mà chúng tôi xuất khẩu sang Việt Nam. Điều đó cũng giống như so sánh giá thịt bò thăn tại Mỹ với giá hamburger tại Việt Nam. Không có một lý lẽ chứng minh nào cho một vụ kiện bán phá giá cả”.

Trước đó, Cục Thú y Việt Nam đã bác bỏ khiếu kiện của nhiều nông dân Việt Nam cho rằng thịt gà Mỹ có chất lượng kém vì bán quá hạn.

Các doanh nghiệp sản xuất gà ở Mỹ dựa vào lợi thế về quy mô và nguồn thức ăn chăn nuôi giá rẻ, vốn chiếm đến 70% giá thành sản phẩm, để hạ giá thành xuống. Chính vì vậy mà, theo ông Sumner, các nhà sản xuất ở Mỹ là ‘những nhà sản xuất thịt gà có chi phí thấp nhất thế giới’.

Mặc dù xác định Việt Nam là nước ‘thắng cuộc’ trong TPP, nhưng các chuyên gia nhận định một số ngành công nghiệp của Việt Nam sẽ phải vất vả cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài.

Tiến sĩ Đinh Thế Hiển, chuyên gia kinh tế tại TP.HCM, được Bloomberg dẫn lời nói: “Việt Nam tin rằng mình sẽ không bao giờ thua về lĩnh vực nông nghiệp do giá nhân công thấp, nhưng thịt gà nhập khẩu Mỹ giá rẻ chứng minh là chúng ta chắc chắn sẽ gánh chịu thiệt hại về các sản phẩm nông nghiệp nếu lĩnh vực này không tự biến đổi”.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài VOA, bà Phạm Chi Lan, thành viên Ban Cố vấn của Thủ tướng Việt Nam, nhận định ‘cơ hội thắng thua’ của các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc không chỉ vào năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh ở Việt Nam.

“Bao nhiêu năm chính phủ Việt Nam năm nào cũng cam kết và đưa ra chính sách gọi là ‘tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp’, nhưng năm nào cũng phải nhắc đến ‘tháo gỡ khó khăn’, có nghĩa là những khó khăn đó về môi trường kinh doanh vẫn còn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Những khó khăn về môi trường kinh doanh thì tự thân từng doanh nghiệp không làm được. Nó phụ thuộc vào nỗ lực của Việt Nam trong cải cách thể chế, tạo môi trường kinh doanh tốt đẹp, thuận lợi và công bằng với các doanh nghiệp”

Bà Phạm Chi Lan cho rằng những khó khăn về môi trường kinh doanh sẽ cộng thêm bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước vốn đã yếu trong tương quan so sánh với các doanh nghiệp nước ngoài.

Hội đồng Xuất khẩu Gia cầm và Trứng của Mỹ cho biết Việt Nam nhập khẩu 54.036 tấn thịt gà Mỹ, chủ yếu là đùi gà, trong 7 tháng đầu năm 2015, tăng 57% so với cùng kỳ năm ngoái.

Hiện không chỉ thịt gà mà các sản phẩm thịt khác của Việt Nam cũng đang bị thịt nhập khẩu lấn át, chẳng hạn như thịt bò nhập từ Úc.

Ngoài vấn đề thức ăn chăn nuôi phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu, năng suất lao động thấp, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, lãi suất ngân hàng cao, chất lượng con giống thấp…là những yếu tố thêm vào khiến cho ngành chăn nuôi Việt Nam bị thua ngay trên sân nhà khi tham gia vào ‘sân chơi’ TPP cũng như các FTA khác.

Theo Bloomberg, Pháp Luật Việt Nam, kinhtevadubao.vn

Khánh An

 (VOA)

Gia nhập TPP: Cơ hội, khó khăn và khả năng thoát Trung cho Việt Nam

000_Was8970858-622.jpg
12 nước thành viên Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015. AFP PHOTO/PAUL HANDLEY

Sau 8 năm với nhiều vòng đàm phán, thứ Hai ngày 5 tháng 10 vừa qua, Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt TPP đã đạt được thảo thuận giữa 12 nước thành viên.

Nếu như với giới truyền thông và các chuyên gia thì đây là một nỗ lực đầy tham vọng của Tổng thống Barack Obama, thì với Việt Nam, đây lại là 1 thời điểm lịch sử đúng 20 năm kể từ năm 1995, quan hệ bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được thiết lập. Hiệp định này không những là một cơ hội lớn cho nền kinh tế Việt Nam mà với một số doanh nhân và chuyên gia, đây là khả năng thoát Trung cho Việt Nam.

Cơ hội cho ngành hàng sản xuất 100% nội địa

Những ngày qua, có nhiều ý kiến cho rằng sẽ là hơi sớm nếu chúng ta nói về kết quả gia nhập TPP của Việt Nam. Thế nhưng, với những doanh nghiệp có sản phẩm nội địa xuất khẩu sang thị trường châu Âu, châu Mỹ, hoặc 12 nước thành viên TPP, và nhất là khi những doanh nghiệp đó có chuẩn bị tốt thì thảo thuận lịch sử này là một cơ hội lớn cho phát triển kinh tế. Ngược lại, những doanh nghiệp, cơ sở nhỏ nếu không có sự chuẩn bị kỹ thì sẽ có nguy cơ đóng cửa. Đây là nhận xét của ông Nguyễn Hữu Hoàng, một doanh nhân rất thành công về các sản phẩm đất sạch làm từ xơ dừa và hiện có nhiều sản phẩm cung cấp cho Walmart ở Hoa Kỳ. Chia sẻ chi tiết hơn, ông đưa ra giải thích như sau:

Khi vào TPP thì 1 số doanh nghiệp tư nhân nghĩ rằng sân chơi sẽ bình đẳng hơn bởi vì nó có công đoàn tự do. Mà công đoàn tự do thì nó sẽ được cất tiếng nói, vì dân họ có quyền lôi ông chính quyền ra tòa nếu anh có sự thiên vị. 
-Ông Nguyễn Hữu Hoàng

“Bởi vì khi anh vào sân chơi với người ta, anh không chuẩn bị tốt, mà lâu nay anh mua hàng, lắp ráp của Trung Quốc, những nguyên liệu nhập từ của Trung Quốc thì anh sẽ không thể vào thị trường lớn được. Một số doanh nghiệp quốc doanh sẽ có khả năng phải đóng cửa hoặc phải tự thân sắp đặt lại. Vì lâu nay họ ỷ lại vào nhà nước, vào vốn nhà nước, vào sự bảo trợ.”

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh trong lần trả lời phỏng vấn của Mặc Lâm, Đài Á châu tự do cũng nêu rõ quan điểm của ông:

“TPP muốn Việt Nam xuất khẩu hàng do Việt Nam sản xuất chứ không phải xuất khẩu hộ hàng của Trung Quốc. Vì vậy Việt Nam đang cố gắng nâng cao hàm lượng nội địa, thu hút thêm nhà đầu tư nước ngoài và đấy là những thách thức, nhưng thách thức dó nếu được xử lý tốt thì có thể trở thành thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng của Việt Nam.”

TPP là một sân chơi bình đẳng cho các quốc gia thành viên. Những sản phẩm làm ra, nếu xuất khẩu vào thị trường của 12 nước thành viên thì phải đảm bảo tỷ trọng nguyên liệu cấu thành nên sản phẩm đó là bao nhiêu phần trăm nằm trong khối TPP.

Theo lời ông Hoàng, nếu không đạt được đúng tỷ trọng đó, thì doanh nghiệp sẽ không được hưởng thuế suất là 0%.

Trong một tài liệu về những điều căn bản của hiệp định TPP có nhắc đến rằng với hiệp định TPP, các công ty, tập đoàn nước ngoài và quốc tế sẽ có khả năng mang chính phủ của các quốc gia thành viên ra tòa án đặc biệt của TPP khi các quốc gia này đặt ra các luật lệ, chính sách đi ngược lại với chỉ tiêu của TPP. Tòa án này có toàn quyền bắt chính phủ đền bù không những cho các thiệt hại đã xảy ra, mà còn cho những mất mát về cơ hội trong tương lai của các tập đoàn, công nghiệp quốc tế. Giải thích chi tiết về điều này, ông Hoàng đưa ra những nhận định của mình:

“Khi vào TPP thì 1 số doanh nghiệp tư nhân nghĩ rằng sân chơi sẽ bình đẳng hơn bởi vì nó có công đoàn tự do. Mà công đoàn tự do thì nó sẽ được cất tiếng nói, vì dân họ có quyền lôi ông chính quyền ra tòa nếu anh có sự thiên vị.”

Theo sự giải thích này, thì chúng ta có thể hiểu rằng các doanh nhân cũng như các ngành hàng sản xuất của Việt Nam sẽ được luật chơi quốc tế sẽ bảo vệ mạnh mẽ.

Khó khăn


Đoàn xe chở hàng hóa qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc tại cửa khẩu Tân Thanh, tỉnh Lạng Sơn, ảnh minh họa chụp trước đây.

000_Hkg987465-305B.jpg
Đoàn xe chở hàng hóa qua biên giới Việt Nam
 - Trung Quốc tại cửa khẩu Tân Thanh, tỉnh 
Lạng Sơn, ảnh minh họa chụp trước đây.

Bên cạnh những cơ hội và thuận lợi cho kinh tế, thị trường Việt Nam cũng không tránh được những khó khăn sẽ xảy ra, mà theo ông Hoàng dẫn dụ về ngành nông sản:

“Hiện nay có một số ngành hàng, chẳng hạn như nông sản, chăn nuôi. Chẳng hạn như trứng gà Mỹ, và thịt gà Mỹ rất rẻ, và Mexico và 1 số nước đang phát triển thì thực phẩm rất rẻ. Hiện nay Mỹ đang bán gà đông lạnh chỉ khoảng 20 đến 25.000 đồng/kg. Ở Việt Nam, giá gà đông lạnh là 50.000 đồng/kg, gà ta thì hơn cả trăm ngàn đồng/kg.”

Theo nguồn tin trích dẫn từ báo mạng vnexpress trong nước vào ngày 29 tháng Bảy vừa qua, Hiệp hội chăn nuôi Đông Nam Bộ lên tiếng rằng gà Mỹ nhập vào Việt Nam với giá 19.000 đồng/kg và bán ra thị trường TP HCM với giá là 23.000 đồng/kg, rẻ bằng 1 nửa giá gà trong nước.

“Không vào TPP, không thể nào thoát Trung Quốc”

Mặc dù họ biết họ đạt được thì họ phải đánh đổi cái này, đánh đổi sự đe dọa quyền lực. Mà 1 điều nữa, đó là hiện nay nếu không vào TPP thì không có cách nào thoát Trung Quốc được. Chính phủ Việt Nam đang rất muốn thoát Trung Quốc nhưng thoát bằng cách nào? 
-Ông Nguyễn Hữu Hoàng

Một trong những điều mà chính phủ Việt Nam phải đáp ứng trong hiệp định TPP, đó là không độc quyền để lãnh đạo công đoàn nữa. Chúng ta biết rằng, Tổ chức công đoàn lâu nay là do Đảng Cộng sản quản lý. Như thế, vấn đề đặt ra, có phải  nhà nước Việt Nam đã sẵn sàng cho một sự cải tổ? Hay nói cách khác, chính phủ Việt Nam đang đứng trước một thách thức lớn về bộ máy lãnh đạo? Đặt vấn đề này với ông Hoàng, ông có ý kiến rằng:

“Trong điều lệ của Đảng cộng sản Việt Nam, giai cấp công nông là giai cấp tiên phong. Trong khi đó, bây giờ giai cấp này đang bị 1 tập đoàn, nhiều nước tư bản đang kiểm soát. Đó là 1 trong những cái mà nếu không có lợi thì chính quyền Việt Nam sẽ không theo đuổi để đạt được. Mặc dù họ biết họ đạt được thì họ phải đánh đổi cái này, đánh đổi sự đe dọa quyền lực. Mà 1 điều nữa, đó là hiện nay nếu không vào TPP thì không có cách nào thoát Trung Quốc được. Chính phủ Việt Nam đang rất muốn thoát Trung Quốc nhưng thoát bằng cách nào?”

Đề cập đến vấn đề này, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, trong cuộc trò chuyện với Nguyên Lam của Đài Á Châu Tự Do có nói rằng:

“Một thí dụ thiết thực là trong hệ thống TPP, Việt Nam sẽ có hậu phương lớn của 11 nước để từ bông vải qua dệt sợi mà tiến vào thị trường áo quần may mặc hoặc từ các phụ kiện điện tử mà lên tới trình độ chế biến cao hơn, có giá trị hơn. Với một hậu phương mới, kinh tế Việt Nam sẽ bớt lệ thuộc vào nguồn cung cấp nguyên vật liệu của Trung Quốc nên khó bị Bắc Kinh khuynh đảo. Các thị trường quốc tế đều đánh giá là từ hệ thống TPP, Việt Nam có lợi nhất và Trung Quốc bị thiệt hại nhất. Việt Nam phải mau chóng cải sửa để biến dự phóng ấy thành hiện thực. Lãnh đạo mà không dám hay không muốn thì người dân phải làm vì đấy mới là tương lai xứng đáng của mình.”

Như đã nói, kết quả đạt được của Việt Nam sau khi gia nhập TPP hãy còn là chuyện phía trước. Thế nhưng, qua chia sẻ của các thính giả gửi đến Đài Á Châu Tự do thì có vẻ như có rất nhiều hy vọng vào một nền kinh tế phát triển, và nhất là cơ hội thoát Trung Quốc về cả kinh tế lẫn chính trị trong tương lai không xa.

Cát Linh

(RFA)

Cơ hội và thách thức của TPP đối với Việt Nam

Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015
                   Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015. AFP

Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, TPP, được 12 nước tham gia đàm phán đúc kết vào ngày 5 tháng 10 vừa qua. Giới chuyên gia Việt Nam cho rằng đây là một cơ hội cho Việt Nam, đồng thời cũng là thách thức lớn buộc Hà Nội phải có những cải cách thực sự. Một lĩnh vực phải có những thay đổi cho phù hợp với qui định chung của quốc tế là luật pháp.

Luật sư Lê Công Định trong bài trả lời phỏng vấn biên tập viên Gia Minh đề cập đến lĩnh vực tư pháp hiện đang lạc hậu của Việt Nam cần phải thay đổi ngay vì theo vị luật sư này đây là cơ hội cuối cùng cho Việt Nam.

Trước hết luật sư Lê Công Định nói đến cơ hội và thách thức của TPP đối với Việt Nam.

Luật sư Lê Công Định: Cơ hội thì có nhưng chắc chắn thách thức cũng nhiều, nhất là việc tuân thủ các luật lệ thương mại quốc tế chung. Thí dụ TPP tạo ra một sân bình đẳng và tìm cách phá bỏ mọi rào cản về thương mại giữa các nước thành viên; như vậy vấn đề thuế quan là vấn đề đặt ra hàng đầu do đó tôi nghĩ những thay đổi về luật pháp của Việt Nam trong tương lai cũng sẽ tập trung vào vấn đề đó.

Và một trong những yêu cầu của TPP là quyền lập hội và đặc biệt là thành lập công đoàn độc lập cũng đặt ra một thách thức lớn đối với chính phủ Việt Nam. Tất nhiên, những thay đổi này có lợi cho người lao động ở Việt Nam nhưng đối với chính quyền thì đó là một khó khăn đối với họ. Và cuộc thương lượng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ về vấn đề này tôi nghĩ cũng có nhiều chông gai nhưng cuối cùng chính quyền Việt Nam đã chấp nhận điều đó. Và chúng ta chờ đợi xem trong một năm tới đây thì những luật pháp liên quan đến quyền lập hội, quyền lập công đoàn độc lập sẽ được ban hành như thế nào, và những cơ hội nào có được cho người lao động trong tương lai. Đó là điều tôi nghĩ cũng là một thách thức và nếu Việt Nam không tuân thủ một lộ trình và cam kết của mình như vậy thì tôi nghĩ sự chế tài của cộng đồng quốc tế, mà ở đây trong phạm vi các nước thành viên TPP, sẽ rất rõ ràng và cụ thể. Chúng ta không thể tìm cách lẩn tránh hoặc trì hoãn sự chế tài đó được đâu.

Tôi nghĩ cơ hội có và thách thức cũng nhiều.

Gia Minh: Luật sư thấy đến nay đội ngũ những người trong ngành luật để khi có xảy ra những vụ việc và Việt Nam phải đối mặt với những biện pháp chế tài mà luật sư vừa nhắc đến, thì theo luật sư được đến đâu và công tác đào tạo phải thế nào để có thể đáp ứng được yêu cầu?

Một trong những yêu cầu của TPP là quyền lập hội và đặc biệt là thành lập công đoàn độc lập cũng đặt ra một thách thức lớn đối với chính phủ Việt Nam. Tất nhiên, những thay đổi này có lợi cho người lao động ở Việt Nam nhưng đối với chính quyền thì đó là một khó khăn đối với họ
Luật sư Lê Công Định

Luật sư Lê Công Định: Hơn mười mấy năm nay, ở Việt Nam có một đội ngũ luật sư chuyên môn về thương mại quốc tế, họ càng ngày càng có nhiều kinh nghiệm hơn. Tôi tin nhóm luật sư này sẽ đóng góp nhiều trong tương lai. Tuy nhiên số lượng quá ít và có thể nói có những cơ hội sắp mở ra và rất, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội đi ra thị trường nước ngoài hơn cả thời tham gia WTO nữa. Thế nhưng những luật sư và các hãng luật chuyên môn về luật thương mại quốc tế nói thật đếm trên đầu ngón tay. Do đó sự thiếu hụt về đội ngũ luật sư giỏi và có kinh nghiệm, phải nói thật, là điều mà tôi thấy lo lắng.

Tôi nghĩ với chương trình và giáo trình đào tạo theo kiểu của các đại học luật ở Việt Nam hiện nay thì hoàn toàn không có khả năng đáp ứng được nhu cầu mở rộng trong tương lai. Do đó theo tôi hơn bao giờ hết, các đại học luật Việt Nam phải tập trung thay đổi tận gốc rễ chương trình và các giáo trình của mình. Nếu không chúng ta không có cách nào để bắt kịp đà phát triển mới như vậy.

Cách đây hơn 10 năm tôi có dịp sang Kampuchia, đến Phnom Penh tham quan Đại học Luật ở thủ đô Phnom Penh, tôi thấy chương trình của họ vào năm 2003 đã phát triển rất mạnh mẽ rồi. Còn chúng ta 12 năm nay, tôi nhìn lại vẫn thấy rằng chương trình Đại học Luật Việt Nam vẫn thua Đại học Luật Phnom Penh 12 năm về trước. Cứ nghĩ xem 12 năm qua họ càng phát triển hơn thế nào.

Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, TPP
Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, TPP
Do đó nếu lúc này chúng ta không cải cách một cách triệt để, chắc chắn một điều ngay cả Kampuchia chúng ta cũng thua chứ chưa nói đến cộng đồng ở trong TPP.

Gia Minh: Luật sư vừa đề cập đến từ ‘cải cách triệt để’; lâu nay người ta cũng nói đến ‘cải cách thể chế’, những cải cách liên quan; mặc dù người ta thấy bức thiết nhưng có thể thực hiện trong thời gian đến?

Luật sư Lê Công Định: Tôi nghĩ thay đổi cả một truyền thống đào tạo ngành luật ở Việt Nam như vậy phải nói rất khó khăn nhưng chúng ta không thể không làm được. Bởi vì để đào tạo ra một đội ngũ luật sư thực sự có năng lực ít nhất phải có 10 năm: trong đó 4 năm đào tạo ở bậc đại học và sau đó họ phải có ít nhất năm năm nữa để hành nghề chuyên nghiệp trong một hãng luật chuyên nghiệp. Như vậy theo tôi nghĩ phải có gần 10 năm hay hơn 10 năm để có được đội ngũ luật sư chuyên nghiệp. Chứ bây giờ không cải cách liền mà chờ 1 năm nữa sau đại hội đảng mới làm thì mất đi một năm. Nếu lại vì một biến cố chính trị nào đó phải trì hoãn nữa, thì nói thật cơ hội của mình ngày càng chậm dần và nếu so với đội ngũ luật sư ở Kampuchia chẳng hạn thì tôi thấy bây giờ mình hoàn toàn đã thua xa rồi thì không còn cách nào khác mà ngay từ lúc này phải làm.

Các đại học luật ở Việt Nam hiện nay thì hoàn toàn không có khả năng đáp ứng được nhu cầu mở rộng trong tương lai. Do đó theo tôi hơn bao giờ hết, các đại học luật Việt Nam phải tập trung thay đổi tận gốc rễ chương trình và các giáo trình của mình. Nếu không chúng ta không có cách nào để bắt kịp đà phát triển mới như vậy
Luật sư Lê Công Định

Muốn làm nhưng tôi nói thật chương trình đào tạo của mình lạc hậu quá. Bây giờ mà còn học những môn lý luận nhà nước về pháp quyền, trong đó đặt rất nặng về vấn đề triết học Mác- Lênin, trong nghiên cứu về nghiên cứu về nguồn gốc của nhà nước, nguồn gốc của luật pháp. Tôi nói thật những tư tưởng đó chả đúng tí nàoĐiều đó phải thay đổi.

Gia Minh: Luật sứ nói đó vừa là cơ hội vừa là thách thức, thúc bách phải thay đổi có thể là một cơ hội, có đúng không thưa luật sư?

Luật sư Lê Công Định: Tôi thấy đây là một cơ hội lớn, vì nếu không có cú hích mạnh mẽ của TPP thì chắc hệ thống luật pháp của chúng ta sẽ không thay đổi đâu. Cho nên đây là lúc chính quyền buộc lòng phải thay đổi hệ thống luật pháp. Ở đây tôi không nói riêng về vấn đề công đoàn độc lập, mà toàn bộ hệ thống luật pháp, cùng với vấn đề thực thi, rồi vấn đề thi hành các phán quyết của tòa án của mình. Bởi vì trong tương lai những tranh tụng như vậy có thể xảy ra tại tòa án của mình. Nếu tòa án của mình xử không công minh và khi có bản án rồi mà không thi hành được, hoặc thi hành một cách chậm trễ khiến gây thiệt hại cho giới đầu tư hoặc thương mại nước ngoài, thì mang một tiếng xấu rất nghiêm trọng đối với các nước thành viên TPP; như vậy không thể nào hòa nhập trong nền kinh tế quốc tế được.

Do đó tôi nghĩ toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, hệ thống tư pháp bắt buộc phải thay đổi bởi cú hích TPP này.

Gia Minh: Hẳn nhiên luật sư cũng chia xẻ ý kiến này với các luật sư và giới luật gia ở Việt Nam, họ có ý kiến gì không?

Luật sư Lê Công Định: Vấn đề này anh em trong giới luật sư, luật gia và thậm chí tòa án người ta cũng đã nhận thấy chứ không phải không. Bởi vì chúng ta biết năm 2000 khi Việt Nam ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, sau đó năm 2007 tham gia WTO; nhưng cơ hội đó cũng đòi hỏi chúng ta phải cải cách hệ thống luật pháp và quả nhiên Việt Nam cũng đã có một sự cải cách nào đó. Tuy nhiên vẫn chưa đủ và do việc cải cách nửa vời đó khiến làm trì trệ sự phát triển kinh tế. TPP này là cơ hội thứ ba và tôi nghĩ đây là cơ hội cuối cùng để Việt Nam có thể hòa nhập thực sự và thay đổi hệ thống luật pháp cho giống với hệ thống mà cả thế giới chấp nhận và có quan điểm tương tự. Như vậy đây là cơ hội cuối cùng, nếu không theo tôi chúng ta sẽ không bắt được nhịp phát triển mà còn bị đẩy lùi ngược trở lại và chúng ta mãi mãi là một nền kinh tế gia công. Theo tôi nghĩ nếu với một hệ thống luật pháp lạc hậu nữa thì Việt Nam cứ là nơi để người ta đến kiếm tiền rồi người ta đi. Bao nhiêu cơ hội chúng ta có thể tận dụng sẽ lại bị trượt một lần nữa.

Gia Minh: Cám ơn luật sư.

Gia Minh

(RFA)

TPP còn phải vượt qua ‘cửa ải’ quốc hội ở 12 nước

Người biểu tình hô khẩu hiệu phản đối hiệp định TPP tại Tokyo.
                              Người biểu tình hô khẩu hiệu phản đối hiệp định TPP tại Tokyo.

BANGKOK—Hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), thỏa thuận thương mại tự do rộng lớn nhất trong lịch sử, được hơn một chục nước thành viên ca ngợi là sẽ thống nhất một thị trường chiếm tới 40% nền kinh tế toàn cầu với tổng kim ngạch thương mại trị giá tới 30.000 tỷ đôla. Nhưng việc thực thi hiệp định chưa phải là chắc chắn. Từ văn phòng của Đài VOA ở Đông Nam Á ở Bangkok, thông tín viên Steve Herman tường thuật về các rào cản lập pháp mà TPP phải vượt qua.  

Sau tiến trình đàm phán đầy bí mật, các chính trị gia, các nhóm lợi ích và công chúng tại 12 nước tham gia TPP sẽ sớm có dịp phân tích các chi tiết cua hiệp định khi toàn bộ nội dung của thỏa thuận được công bố.

Một số sẽ thấy những điều khoản mà họ không hài lòng. Và điều đó sẽ gia tăng áp lực lên các nhà lập pháp, khi họ cân nhắc việc thông qua hiệp định này. Nếu tất cả các nước tham gia không phê chuẩn TPP trong vòng hai năm thì 6 quốc gia ký thỏa thuận ban đầu, vốn chiếm 85% tổng sản phẩm quốc nội của khối này, sẽ phải phê chuẩn hiệp định này. Điều đó có nghĩa là việc chấp thuận của Mỹ cùng với Canada hoặc Nhật Bản là điều hết sức quan trọng.

Hiện giờ đã có sự chống đối đáng kể từ một số các thượng nghị sĩ có ảnh hưởng ở Hoa Kỳ, trong đó có cả những người trong đảng Dân chủ của Tổng thống Obama. Cựu Ngoại trưởng đồng thời hiện là ứng viên tổng thống của Đảng Dân chủ, bà Hillary Clinton, là một trong những người phản đối TPP.

Một số nhà quan sát nhận định rằng việc thông qua, nếu có, ở Mỹ sẽ chỉ xảy ra sau cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 năm sau.

Bà Deborah Elms, một người phản đối TPP, là giám đốc điều hành Trung tâm Thương mại Á châu tại Singapore.

“Tôi nghĩ rằng nếu Hoa Kỳ không thể hoặc sẽ không thực thi thỏa thuận này thì các nước khác có thể vẫn quyết định xúc tiến và về cơ bản sẽ ra một phiên bản mới của thỏa thuận này mà không có Hoa Kỳ.”

Số phận của TPP ở Canada có thể sẽ phải phụ thuộc vào kết quả của cuộc bầu cử liên bang vào ngày 19/10.

Ngoài ra, còn có sự chống đối lớn đối với TPP ở Australia và New Zealand, mặc dù có nhiều phần chắc hiệp định này sẽ được quốc hội ở cả hai nước này thông qua, theo nhận định của bà Elms từ Trung tâm Thương mại Á châu. Bà nói thêm:

“Họ tin rằng người Mỹ có được những thứ mà nước này muốn nhiều hơn so với Australia hoặc New Zealand.”

Đảng Lao động New Zealand, hiện không thuộc thành phần của chính phủ, cũng bất mãn về một điều khoản của TPP cấm đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực đất đai và nhà ở.

Và Chile cũng là một nước khác mà TPP sẽ vấp phải sự chống đối lớn tại quốc hội, vì những quan ngại về thuốc men với giá cả phải chăng.

Hiện cũng chưa rõ liệu TPP có được thông qua tại Nhật Bản hay không.

Cả hai viện quốc hội Nhật Bản sẽ xem xét hiệp định, và chính phủ đang cân nhắc tổ chức thêm một phiên thảo luận vào đầu năm tới, dù chưa rõ là việc cân nhắc về TPP sẽ hoàn tất hay chưa. Những quyết định đáng kể của chính phủ Nhật Bản về lĩnh vực nông nghiệp sẽ khiến một số nhóm nông gia chống đối việc thông qua thỏa thuận.

Các nước trong Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, và các hiệp định thương mại khác.
Các nước trong Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, và các hiệp định thương mại khác.

Tại Malaysia, nhà lập pháp đối lập Charles Santiago đã chỉ trích TPP là “một trong các thỏa thuận thương mại nguy hiểm nhất khi xét về vấn đề thuốc men với giá cả phải chăng, nhất là tại các nước đang phát triển.” Ông nói với đài VOA rằng chính phủ Malaysia đã cam kết sẽ chỉ hành động sau khi TPP nhận được chấp thuận tại quốc hội. Nhưng chính phủ Malaysia có quyền thông qua hiệp định kể cả đa số các nhà lập pháp phản đối TPP.

“Họ có thể làm điều đó vì Ttrên nguyên tắc, hiến pháp cho phép nội các ký bất kỳ thỏa thuận thương mại nào, và họ từng làm như vậy. Nhưng vì áp lực từ xã hội dân sự, các liên đoàn lao động, từ các nhóm doanh nghiệp, trong đó có các ngành công nghiệp nhỏ và vừa, nên tôi nghĩ chính phủ đã nói rằng “nếu quốc hội không ủng hộ thỏa thuận này, thì chúng tôi cũng không ủng hộ nó”.

Còn tại Việt Nam, một trong các quốc gia hưởng lợi nhiều nhất, một số nhà lập pháp nói với VOA rằng, TPP dự kiến sẽ vượt qua quốc hội một cách dễ dàng.

Australia, Brunei, Mexio, Peru và Singapore cũng là các thành viên của TPP. Tại những nước này, cả chính phủ lẫn các nhà lập pháp ủng hộ thỏa thuận thương mại toàn cầu, TPP dự kiến sẽ được chấp thuận.

Các vòng đàm phán tiếp theo dự kiến sẽ thu hút được một số nước khác như Trung Quốc và Thái Lan, nhưng các quốc gia nhiều khả năng tham gia hơn là Colombia, Costa Rica, Hong Kong, Panama, Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan.

Steve Herman

(VOA)

TPP và ảnh hưởng có thể có với VN

  Đàm phán giữa 12 quốc gia tại Atlanta, Hoa Kỳ về TPP đã hoàn tất chính thức hôm 05/10/2015

Hiệp định TPP được 12 quốc gia gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada, Úc, Singapore, New Zealand, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Mexico, Chile và Peru đàm phán xong hôm 05/10 đang thu hút sự chú ý của dư luận Việt Nam, trong và ngoài nước.

Xin theo dõi thảo luận trực tuyến của BBC Tiếng Việt tại đây.

Nhiều ý kiến, quan điểm được đặt ra xoay quanh thỏa ước mà tên gọi đầy đủ là Hiệp định Hợp tác Đối tác Xuyên Thái Bình Dương có phạm vi bao phủ một thị trường với 800 triệu dân và liên quan 40% giá trị mậu dịch thế giới.

Các ý kiến ủng hộ và cổ vũ cho TPP coi đây là một Hiệp định 'lịch sử', 'bản lề' và 'bước ngoặt', trong khi cũng có những ý kiến hoài nghi, đặt dấu hỏi về thực chất hiệu quả và động cơ của các nước tham gia, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam v.v...

Với Việt Nam, truyền thông trong nước cho hay, tham gia TPP sẽ giúp Việt Nam có cơ hội cải tổ mạnh mẽ về thế chế, nâng cao năng lực và trình độ của nền kinh tế, tạo cú hích không chỉ cho tái cơ cấu kinh tế, đầu tư, công nghiệp, mà còn giúp Việt Nam có đã đẩy tới các cải cách về xã hội, thị trường, thậm chí chính trị.

Riêng về mặt kinh tế, tham gia TPP được cho là cơ hội giúp Việt Nam tăng trưởng và củng cố tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu mạnh mẽ, giảm lệ thuộc vào các quốc gia trong khu vực mà lâu nay Việt Nam được cho là bị thâm hụt mậu dịch, nhập siêu, đặc biệt liên quan tới quan hệ mậu dịch, kinh tế song phương với Trung Quốc, cường quốc thứ hai về kinh tế toàn cầu.

Việt Nam, cũng như một số quốc gia tham gia đàm phán TPP, sẽ còn có thời gian để chính thức phê chuẩn Hiệp định, tuy nhiên đâu có thể sẽ là các tác động, ảnh hưởng có thể có với quốc gia Đông Nam Á với trên 90 triệu dân này, về các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, thể chế... khi gia nhập TPP?
Cơ hội, cú hích?
                                   Vào TPP, liệu Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hơn là rủi ro?

Đây cũng là chủ đề của cuộc Tọa đàm Bàn tròn Trực tuyến thứ Năm tuần này của BBC Việt ngữ, được phát trực tuyến vào lúc 19h30-20h00 giờ Việt Nam, với các vị khách là các nhà quan sát, phân tích, bình luận từ Việt Nam và hải ngoại.

Ngoài ra, một số câu hỏi có thể được đặt ra và thảo luận tại bàn tròn như:

1) TPP sẽ đem lại thay đổi gì trong quan hệ tam giác chính trị, thương mại Việt - Mỹ - Trung? Liệu Việt Nam có bớt được lệ thuộc vào kinh tế với Trung Quốc, giảm được nhập siêu và sự lệ thuộc hay không?

2) Liệu công đoàn độc lập có được công nhận hay không, như một hệ lụy của biến đổi thể chế mà TPP có thể đem lại? Nếu có, thì lấy gì đảm bảo điều đó? Còn nếu không, thì sao?

3) TPP sẽ tạo ra biến đổi chủ yếu nào về các mặt thể chế (kể cả về đường lối phát triển thị trường), chính trị, xã hội, kinh tế đối ngoại của Việt Nam?

4) Nhà nước Việt Nam đã sẵn sàng điều chỉnh, thích nghi cho TPP chưa, những gì cần phải làm ngay để hội nhập hiệu quả, chủ động và bền vững?

5) TPP được cho là một cơ hội có tính bản lề, bước ngoặt lịch sử đối với VN, điều ấy đúng nhất ở mặt nào, điểm nào, lĩnh vực nào? Nếu VN không nắm bắt, làm chủ được cơ hội này, thì điều gì xảy ra?

6) Việt Nam đã đang tham gia, đàm phán, ký kết tham gia vào nhiều hiệp định, thỏa ước thương mại tự do song phương, đa phương khu vực và toàn cầu, cần lưu ý gì là quan trọng nhất để hài hòa các hiệp định, thỏa ước đã đang ký kết nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất có thể cho sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh quốc gia một cách bền vững và thực chất?

Mời quý vị theo dõi chương trình của chúng tôi tại đây: http://bit.ly/1VCJtfj
(BBC)


Alan Phan - Những ảo tưởng về TPP (Trans-Pacific Partnership)


Đời sống không phải là một bài toán cần giải đáp mà là một thực tại cần trải nghiệm – Life is not a problem to be solved, but a reality
to be experienced – Soren Kierkegaard

Khoảng 2002, trong cuộc tranh cãi với một đại gia Mỹ, hai chúng tôi đánh cược vào một tình thế chính trị đang “hot” lúc bấy giờ. Khủng bố Hồi Giáo đã đánh sập tòa nhà World Trade Center ở New York năm ngoái, dân Mỹ sôi sục với an ninh quốc gia, và TT G. W. Bush đang chuẩn bị đổ quân vào Iraq, lấy lý do tiện lợi là Hussein có thể đe dọa Mỹ và thế giới với “weapons of massive destruction” (WMD, vũ khí có sức tàn phá diện rộng). Ông bạn đại gia Mỹ hờ hởi tin rằng cuộc chiến mới sẽ thay đổi bộ mặt chính trị và xã hội của Trung Đông, đặc biệt là kinh tế dầu khí… Là siêu cường duy nhất còn lại, khi Mỹ kiểm soát nguồn năng lượng quan trọng này, thế giới sẽ có Pax Americana (thời đại thanh bình kiểu Mỹ)….

clouds-300x149Quan điểm trái ngược của tôi là bộ mặt Trung Đông đã hình thành qua cả ngàn năm lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục… nó sẽ không thể thay đổi trong vài năm chỉ vì Mỹ và ông Bush có ước muốn như vậy. Dù lý tưởng và triết thuyết có hay đẹp đến đâu, thực tại luôn là một “son of a bitch” (con chó đẻ). Tôi kết luận là sau 2 nhiệm kỳ (nếu ông Bush tái cử) , Iraq sẽ không khác gì ngày nay, a messy nation under some form of dictatorial regime (một quốc gia hỗn loạn dưới một hình thức độc tài nào đó). Riêng Trung Đông, it’s the same old story (thành ngữ VN là –vũ như cẩn).

Lúc đó, căn nhà ở Hồng Kông của tôi có trưng bày một lộc bình thời Khang Hy rất quý. Tôi không sưu tầm đồ cổ, nhưng mua được với giá quá hời từ một công ty nhà nước nhỏ ở Xian (Tây An).  Ông đại gia Mỹ thèm thuồng đòi mua lại, thuê cả người định giá là khoảng 30 ngàn đô la, nhưng tôi không bán. Sẵn đó, ông cược với tôi là nếu nhận xét của ông đúng, khi Iraq và Trung Đông đã ngoan ngoãn trong vòng tay Mỹ, thì 6 năm nữa, ông sẽ làm chủ chiếc lộc bình này. Nếu ông sai, ông sẽ ghé Hồng Kong và trả tôi 30 ngàn tiền thua cuộc. Tôi đồng ý, nhưng năm sau, vợ tôi bán chiếc lộc bình khi trang trí lại nhà cửa (không biết sau này ông TBT Trọng có là chủ nhân?). Tôi thấp thỏm cả mấy năm trời, nghĩ là phải mất 30 ngàn nếu thua cược. May mắn sao, trước khi TT Bush hết nhiệm kỳ hai, ông đại gia Mỹ ghé Hồng Kong, tìm tôi và trả tôi chi phiếu 30 ngàn đô la như một gentleman.

TPP và cao trào của hy vọng

Vừa rồi, khi đài truyền hình Saigon TV ở California phỏng vấn tôi về TPP, tôi tranh luận với ông bạn cũ Lương Đức Hợp, là TPP sẽ chẳng thay đổi gì bộ mặt chính trị và xã hội của Việt Nam chút nào trong thập niên tới. Về kinh tế vĩ mô thì TPP có thể ảnh hưởng nhưng không nhiều; riêng lợi và hại cho Việt Nam cũng chưa chắc đã cân xứng như những lời xưng tụng.

Trước khi tôi trình bày quan điểm, anh Hợp cho rằng TPP, theo pháp lý, sẽ bắt Việt Nam phải thay đổi cơ chế theo thị trường, quyền điều hành công đoàn sẽ tự do hơn, nhân quyền được tôn trọng, bản quyền trí tuệ được bảo vệ và quyền lợi của doanh nghiệp tư nhân sẽ do pháp trị định đoạt. Khi vào TPP, Việt Nam sẽ được công nhận chính thức là một thành viên mới của nền kinh tế liên thông, sẽ gia tăng xuất khẩu, cùng thu nhập của người dân và quan trọng nhất, là Việt Nam sẽ đứng về phía Mỹ để thoát Trung.

Tôi nhắc lại, thực tại là son of a bitch. Về pháp lý và cơ chế “hành” chính, Việt Nam có một hiến pháp vừa hoàn thiện, một bộ luật dầy đặc những khôn ngoan của mọi triết thuyết, và một bộ máy gồm toàn các tiến sĩ, giáo sư, học giả…với đủ loại bằng cấp đen trắng đỏ vàng. Nhưng mọi tầng lớp của xã hội, từ người làm ra luật, thi hành luật, hay “chịu đựng” luật… đều giống nhau ở chỗ “nobody give a shit” (không ai quan tâm). Xui bị công an kêu lại thì lo mà móc túi nộp mãi lộ. Không mấy ai mất thì giờ (hay mất mạng) để tranh cãi trừ khi mắc bệnh tâm thần (kiểu VN).

Ảo tưởng muôn đời của lý tưởng Âu Mỹ

Mọi điều phân tích khác của anh Hợp rất tương tự với  lý luận mà Nixon và Kissinger đã “bán” cho dân Mỹ 43 năm trước, khi ôm hôn Mao và “mở cửa” Trung Quốc. Hai ông chính trị gia cho rằng nếu giúp cho Trung Quốc giàu có thịnh vượng hơn, chính quyền Cộng Sản sẽ “tự diễn biến” và trở nên dân chủ, tự do, nhân đạo, hòa bình…hơn. Sau đó, tiền ào ạt đổ vào Trung Quốc, vô sản biến thành “tư bản đỏ” nhưng các vị tư bản COCC này lại rất khác biệt với những hình tượng về tư bản mà Mỹ mong ước. XHCN theo sắc mầu Trung Quốc hay Thiên An Môn là một miếng xương hóc búa khó nhai cho Mỹ và những đồng minh.

Lợi và hại của TPP trên nền kinh tế Việt

Ngoài cái ảo tưởng phổ thông nói trên, hiệp định TPP còn chất chứa nhiều ảo tưởng khác. Nhưng trước khi bàn sâu về ảo tưởng, cho tôi định vị lại những “lợi” và “hại” của TPP với nền kinh tế Việt Nam.

Những cái lợi thì các mạng truyền thông và chuyên gia của chính phủ đã “ca cảnh” quá nhiều:

-          Mở rộng thị trường xuất khẩu qua nhiều quốc gia thành viên, tạo hiệu ứng tăng trưởng mạnh mẽ cho GDP và thu nhập cá nhân (dựa trên GDP);

-          Lượng FDI và FII (đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài) sẽ gia tăng vì theo TPP, hàng rào thuế quan, bản quyền trí tuệ và thao túng tỷ giá…sẽ giảm thiểu tối đa. Ngoài ra, khi đầu tư nhà máy vào Việt Nam, những dự án FDI từ Trung Quốc hay Hàn Quốc sẽ hưởng lợi từ thị trường của các quốc gia thành viên. Cũng trong khung cảnh tích cực đó, kiều hối (một thành tố vô cùng quan trọng cho ngân sách) sẽ tát nước theo mưa.

-          Khi kinh tế phát triển và hội nhập sâu, nhu cầu lao động sẽ lên cao hơn và cấp chuyên viên sẽ hăng hái trau luyện kỹ năng thêm để tăng thu nhập.

-          Với chuẩn mực mới về cạnh tranh quốc tế, có thể sản phẩm và dịch vụ của các doanh nghiệp Việt sẽ được cải thiện về chất lượng, công nghệ và thương hiệu.

Những cái lợi trên cũng đi kèm với vài thực tế hơi chua chát và  những cái hại mà TPP sẽ gây ra cho nền kinh tế:

-          Hiện nay, 72% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam là từ các doanh nghiệp FDI. Tôi không tìm ra dữ liệu là phần chia lại cho lao động và thuế lợi tức của Việt Nam được bao nhiêu phần trăm? Tôi đoán là dưới 5% vì giá nhân công quá rẻ, gia công những phân khúc sản xuất nhỏ là chính, rồi chánh phủ lại miễn trừ nhiều loại thuế với giá khuyến mãi cho đất đai hạ tầng. Như tình trạng đã xẩy ra cho Trung Quốc, khi những điều kiện kiếm tiền của nhà đầu tư ngoại kém đi (giá nhân công, thuế, luật, giá đất…lên cao) , họ sẽ đi tìm những nơi chốn khác.

-          Kỹ năng chuyên viên và chất lượng sản phẩm có tăng nhưng sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa rất yếu. Như một cậu học trò mẫu giáo được khuyến khích để bắt kịp các bạn đã vào đại học. Việc khả thi sẽ là một vấn nạn về khoảng cách kiến thức, tư duy và thời gian.

-          Với TPP, chúng ta không kiếm được nhiều ở các thị trường Âu-Mỹ-Nhật, nhưng thị trường nội địa phải được rộng mở để hàng ngoại tự do xâm nhập. Khi sản phẩm Việt bị giá rẻ của hàng Trung Quốc, Thai Lan cạnh tranh từ phía thấp, còn lại bị đè bẹp bởi chất lượng của hàng Âu, Mỹ, Nhật…ở phía trên; thì lợi thế cạnh tranh càng ngày càng thu hẹp cho mọi doanh nghiệp Việt.

-          Đáng quan tâm nhất là lĩnh vực nông nghiệp: lúng túng với bộ máy “hành” chính nông thôn, phí thuế ngất ngưỡng cao rồi lối canh tác cổ truyền manh mún, nông dân Việt sẽ chịu gánh nặng khủng của TPP.

-          Trong khi đó, với dòng tiền mới từ FDI và kiều hối, quyền lợi và quyền lực của nhóm nhỏ siêu giàu sẽ gia tăng mạnh mẽ. Các phe nhóm không những kiểm soát mọi hoạt động huyết mạch như tài chánh ngân hàng chứng khoán; mà còn tạo ra các chính sách hổ trợ đắc lực cho những dự án BDS, xây dựng hạ tầng, khai thác khoáng sản…của phe nhóm.

Chuyện nhân quyền

Giữa lợi và hại, tùy vị thế chánh trị và xã hội, TPP sẽ khiến vấn đề “nhân quyền” trở nên ít cấp bách hơn vì người Việt chỉ cần chút cải thiện về mức sống vật chất là đã thỏa mãn và chấp nhận mọi bất cập từ chính phủ. Chúng ta thấy rõ là sau khi “đổi mới”, cho đến nay, môi trường sinh hoạt của Việt Nam còn xuống cấp, tệ hơn cả Lào, Kampuchia (chưa cần so sánh với Singapore hay Hàn Quốc); nhưng phần lớn người Việt, kể cả các giới trẻ, đã happy ăn nhậu, cà phê, mê chuyện siêu sao, đá bóng…mà không quan tâm đến chính trị hay văn hóa. Mặc cho nước ngập mỗi ngày mưa tại Hà Nội và Saigon, hay ô nhiễm thực phẩm, không khí, hay kinh tế bị Trung Quốc đô hộ; dân Việt vẫn được tiếng là “hạnh phúc và lạc quan” nhất nhì thế giới. Khi người dân địa phương không “care” thì mọi hoạt động về nhân quyền của các hội đoàn trong hay ngoài nước sẽ èo uột hơn. Các chính phủ Âu, Mỹ…cũng sẽ thờ ơ với vấn nạn này, không cần phải đánh võ mồm để làm vui lòng nhóm cử tri gốc Việt.

Ảo tưởng của hai bên

Cùng với một thực tại khá chua chát, TPP là xúc tác cho vài ảo tưởng khác của nhiều thành phần.

Ngoài ảo tưởng về dân chủ tự do như đã nói bên trên, chính phủ Mỹ luôn mơ về một Việt Nam mạnh mẽ, liên minh với các đồng minh tư bản để chặn tham vọng bá chủ của Trung Quốc trong khu vực. TT Obama còn gắng hoàn thành việc “xoay trục về châu Á” và TPP như một di sản lịch sử vào cuối nhiệm kỳ. Cái giá phải trả cho ảo tưởng này thực ra không to lớn lắm so với kích cỡ của kinh tế Mỹ, nhưng thất vọng là thất vọng. Quan hệ giữa chính phủ và đảng CS của Việt Nam và Trung Quốc sâu xa hơn cả 16 chữ vàng. Thực ra nó là “lá chắn” của cả 2 đảng bộ trước “diễn biến hòa bình”, đồng nghĩa với sự sinh tồn và quyền lực của vài chục triệu đảng viên tại 2 nước.

Trong khi đó, nhiều quan chức và chuyên gia Việt Nam lại ảo tưởng quá nhiều về “con bài” Mỹ trong bàn cờ mà họ cho là khôn ngoan, thủ đoạn của họ. Họ tin rằng chỉ việc để cho tư bản Mỹ vô làm ăn; rồi chém gió vô tội vạ về nhân quyền, tôn giáo, công đoàn…là chính phủ Mỹ sẽ mở rộng hồ bao (và biên giới) để các quan chức kiếm tiền và giấu tiền. Thêm vào đó, nếu đàn anh Trung Quốc có ức hiếp bóc lột nhiều quá, như chiếm đất chiếm biển…thì quân đội Mỹ sẽ mạnh tay can thiệp. Chính phủ Mỹ dù đôi khi giả vờ ngây thơ, nhưng khối điều nghiên chính trị, kinh tế của họ luôn nhậy bén. Họ biết tính ra từng con số (tiền hay sinh mạng) để thẩm định giá phải trả. Không cân xứng là không thực hiện, mặc cho những sáo ngữ “đối tác toàn diện” hay “toàn bịp”.

&&&&&

TPP không phải là hiệp ước thương mại tự do (free trade agreement –FTA) duy nhất của Việt Nam. Trong 2 năm qua, Việt Nam đã ký 8 FTA với ASEAN, ASEAN + , Hàn Quốc, Chile, Liên Minh Nga-Kazakistan-Belarus…Kết quả của các FTA này không gì là ấn tượng, vì ngoài những doanh nghiệp FDI, công ty nội địa Việt chưa đủ sản phẩm và dịch vụ chất lượng, giá cao để xâm nhập những thị trường này. Mức sống người dân không có cải thiện gì đáng kể. Nghịch lý và mâu thuẫn còn trùng điệp trong xã hội và cơ chế. Chỉ có những quan chức và đại gia là có thêm những phần bánh ngon ngọt.

Bây giờ, nếu được gia nhập TPP, miếng bánh này có thể lớn gấp nhiều lần các FTA hiện tại. Và may mắn thì người dân sẽ có chút mảnh vụn tung tóe đâu đó. Các lãnh đạo 2 chánh phủ Việt, Mỹ sẽ hờ hởi khen tặng nhau vì dù sao, TPP cũng là một cột mốc lịch sử như… hiệp định Geneva, hiệp định Paris, hay WTO hay hiệp ước song phương Việt-Mỹ.

Nhưng với khách quan của người ngoài cuộc, thì TPP là khi kẻ cắp gặp bà già.

Alan Phan

(Blog Alan Phan)

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

TPP, cú đá hậu vào Bắc Kinh

media
     Nhiều thị trường mới sẽ mở ra cho ngành giày xuất khẩu Việt Nam sau khi TPP được ký kết.
                                                              REUTERS/Kham

Liên quan đến TPP, Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương đã kết thúc thành công hôm thứ Hai sau 8 năm đàm phán gay go giữa 12 nước trong đó có Việt Nam, phụ trang kinh tế của nhật báo Le Figaro hôm nay 05/10/2015 nhận định « Hiệp định xuyên Thái Bình Dương, một cú đá giò lái cho Bắc Kinh ».

Đỉnh điểm của chiến lược xoay trục mà Tổng thống Barack Obama mong muốn, thỏa thuận về hiệp định TPP tại Atlanta, theo ví von của Les Echos, là một hòn đá ném vào sân sau của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bị sa lầy trong tiến trình cải cách và xác định lại mô hình kinh tế, Trung Quốc đã bị Hoa Kỳ qua mặt.

Không chỉ có việc không phải là thành viên của khối 12 quốc gia chiếm 40% nền kinh tế thế giới, mà Washington còn kiến tạo những trao đổi tương lai tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Lên tiếng hoan nghênh hiệp định, ông Obama nhấn mạnh đến tính chất đối trọng với Bắc Kinh. Tổng thống Mỹ nói : « Khi mà trên 95% khách hàng tiềm năng sống ở bên ngoài biên giới, chúng ta không thể để cho những nước như Trung Quốc áp đặt những quy định cho kinh tế thế giới. TPP tăng cường mối quan hệ chiến lược với các đối tác và đồng minh của Hoa Kỳ tại một khu vực mang tính sống còn trong thế kỷ 21 ».

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe lại còn dấn sâu hơn khi khẳng định Nhật Bản, đại địch của Bắc Kinh ở châu Á sẽ « xúc tiến tăng trưởng khu vực, thịnh vượng và ổn định thông qua việc đào sâu quan hệ với các nước cùng chia sẻ những giá trị như tự do dân chủ, nhân quyền và Nhà nước pháp quyền ».

Các lời bình này càng làm Bắc Kinh thêm tin tưởng TPP là công cụ để kìm hãm ảnh hưởng Trung Quốc, cường quốc kinh tế hàng đầu trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Cố vớt vát sự thiếu vắng phản ứng của Bắc Kinh trong kỳ nghỉ, Tân Hoa Xã cho rằng « hiệp định thiếu minh bạch ». Cuối cùng Bộ trưởng Thương mại cũng lên tiếng cho biết « mở cửa cho mọi cơ chế có thể củng cố sự hội nhập kinh tế của châu Á-Thái Bình Dương ».

Ngay cả Việt Nam cuối cùng cũng mở cửa

Ngoài Nhật Bản, TTP gồm cả một số đối tác khác của Trung Quốc như Việt Nam, Singapore, Malaysia, Úc, Brunei. Với hiệp định này, nước Việt Nam cộng sản sẽ mở cửa không gian mạng và xuất khẩu vào khu vực tự do mậu dịch này với thuế suất ưu đãi, còn giá lao động hiện chỉ bằng 60% so với các tỉnh miền đông Trung Quốc.

Ông Tập Cận Bình, vốn đã dành ưu tiên cho việc vẽ ra bức tranh của thương mại thế giới trong tương lai, chủ yếu qua sự thành lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB) và một khối mậu dịch tự do có tầm vóc khiêm tốn hơn, như vậy đã phải lãnh một cú rờ-ve.

Trung Quốc không nằm trong số các quốc gia sáng lập TPP, do phải cải cách rất nhiều nếu muốn gia nhập, đặc biệt là phải tự do hóa lãnh vực tài chính. Vấn đề là cuối cùng Bắc Kinh có gia nhập khối TPP hay không. Chỉ có một điều chắc chắn, đó là phải khẩn cấp thực hiện những cải cách đang bị hoãn lại do kinh tế sa sút, và sự chống đối của các tập đoàn quốc doanh độc quyền cũng như phe bảo thủ trong đảng Cộng sản Trung Quốc.

Theo Le Figaro, đó là cái giá phải trả nếu Bắc Kinh muốn chuyển đổi từ mô hình công xưởng thế giới thành một trung tâm sáng tạo, một nền kinh tế dịch vụ và tiêu dùng. Trong khi chờ đợi, Tập Cận Bình phải chịu đựng một sự hạ nhục : nghe địch thủ Shinzo Abe « lên lớp ». Thủ tướng Nhật bày tỏ mong muốn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đạt được việc cải tiến các quy định để có thể gia nhập TPP.

Điều an ủi duy nhất cho Bắc Kinh, là Tổng thống Mỹ còn phải tập hợp được những người ủng hộ thuộc cả hai đảng để hiệp định được Quốc hội thông qua. Một sự đánh cược vào đúng thời điểm chiến dịch tranh cử tổng thống.

TPP và Obama: Thành công của chủ trương « xoay trục »

Cũng về TPP, phụ trang kinh tế của Le Monde trong bài « Thương mại : Mỹ và châu Á ký kết một hiệp định lịch sử » sau khi kể ra những thử thách cuối cùng phải vượt qua về bảo vệ bằng sáng chế dược phẩm sinh học, sản phẩm sữa và phụ tùng xe hơi ; đã nhấn mạnh đến chiến lược xoay trục của ông Obama.

Ván bài TPP hết sức rộng lớn. Trước hết, khi hài hòa các chuẩn mực và hạ mức thuế quan, TPP nhằm đẩy mạnh thương mại giữa 12 nước. Các tiêu chuẩn về sở hữu trí tuệ được đẩy lên theo quan điểm phương Tây, bên cạnh đó là chấp nhận mở rộng internet kể cả tại Việt Nam, nơi mà chính quyền cộng sản từ trước đến nay vẫn phản đối. TPP cũng dành hẳn một chương cho việc cấm buôn bán động vật hoang dã, khai thác quá mức môi trường.

Với TPP, 18.000 sắc thuế do 11 đối tác đánh vào hàng xuất khẩu Mỹ trong các lãnh vực máy công cụ, công nghệ thông tin, hóa học, nông sản sẽ được dỡ bỏ. Một chương được dành cho việc nâng các tiêu chuẩn về quyền của người lao động tại những nước như Việt Nam, Malaysia và Brunei.

Về mặt ngoại giao, đối với Hoa Kỳ TPP là kết quả chiến lược xoay trục, qua việc siết chặt quan hệ thương mại với các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương, nhằm đối phó trước ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Đây là một thành công cho ông Barack Obama. Tổng thống Mỹ đã nhấn mạnh: « TPP gồm các cam kết mạnh mẽ nhất về lao động và môi trường chưa bao giờ đạt được trong một hiệp định tự do mậu dịch, và những cam kết này là bắt buộc thực hiện, khác với những hiệp ước trước đây ».

Tuy nhiên Le Monde nhắc lại những cản ngại chưa phải là chấm dứt cho TPP, vì còn phải được Quốc hội của mỗi nước thông qua, trước hết là Quốc hội Mỹ. Đã có những tiếng nói quan ngại : dân biểu Mitch McConnell, lãnh tụ phe đa số Cộng hòa tại Hạ viện tỏ ra thận trọng ; còn cánh cực tả của phe Dân chủ như Bernie Sanders thì cực lực tố cáo TPP chỉ mang lợi lộc cho Wall Street và các tập đoàn lớn.

Tờ báo nói thêm, một số đại biểu Dân chủ vẫn còn bực tức về hiệp định tự do mậu dịch Bắc Mỹ (Alena), thương lượng năm 1994 dưới thời Bill Clinton, cho rằng đã đẩy một số ngành kỹ nghệ của Hoa Kỳ chạy sang Mêhicô, làm mất đi 700.000 việc làm. Tập đoàn xe hơi Ford « khuyến cáo Quốc hội không thông qua TPP dưới hình thức hiện nay, để bảo đảm tính cạnh tranh tương lai của công nghiệp xe hơi ». Các tổ chức phi chính phủ, các nghiệp đoàn cũng sẽ tham gia phản đối trong những tuần lễ sắp tới.

Bắc Kinh tuyên truyền chống Nhật, dân Hoa lục vẫn đổ xô du lịch Nhật Bản

Cũng liên quan đến châu Á, nhật báo kinh tế Les Echos chú ý đến hiện tượng « Du khách Trung Quốc đổ xô đến Nhật Bản ». Trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh Trung Quốc, số khách du lịch từ Hoa lục đến tham quan đất nước hoa anh đào năm nay đã tăng gấp đôi so với năm ngoái.

Tờ báo cho rằng đây là cả một sự nhạo báng đối với bộ máy tuyên truyền của chính quyền Bắc Kinh vốn luôn lặp đi lặp lại những tội ác trong quá khứ của quân phiệt Nhật : ngày càng có nhiều người dân Trung Quốc sang thăm nước láng giềng Nhật Bản. Kỳ nghỉ lễ Quốc khánh kéo dài từ ngày 1 đến 7 tháng Mười càng khẳng định thêm xu hướng này, chủ yếu là do chênh lệch tỉ giá giữa đồng yen và nhân dân tệ.

Theo con số đặt chỗ của Ctrip, công ty du lịch trên mạng hàng đầu Trung Quốc được báo chí chính thức dẫn ra, Nhật Bản là hướng đến đứng trên cả Hàn Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Macao và Hoa Kỳ, những lựa chọn truyền thống của du khách Hoa lục trong kỳ nghỉ quan trọng thứ nhì chỉ sau Tết âm lịch. Tổng cục Du lịch Trung Quốc ước tính khách trong nước sang Nhật Bản du lịch tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái.

Các nỗ lực không ngơi nghỉ của Bắc Kinh nhằm kích động tinh thần dân tộc chủ nghĩa đã vấp phải một thực tế phũ phàng: lợi dụng đồng yen sụt giá, dân Hoa lục sang Nhật chủ yếu để shopping hơn là thưởng thức vẻ đẹp của xứ sở hoa anh đào. Tờ China Daily chọn đăng tấm ảnh kết quả mua sắm trên mạng của một cô gái Trung Quốc ở khu phố Akihabara, Tokyo.

Các món hàng hiệu tại Nhật nay đã rẻ hơn tại Hồng Kông hay Macao, và tất nhiên mang lại niềm vui cho chủ các khách sạn ở Nhật, đầy kín khách. Hồng Kông bỗng nhiên thiệt thòi, trong khi Hàn Quốc dần hồi phục sau nạn dịch SARS. Hoa Kỳ thì vẫn thu hút một lượng khách du lịch Trung Quốc đáng kể nhờ thủ tục cấp visa dễ dàng hơn.

Ngược lại những ai chọn lựa ở lại Bắc Kinh trong kỳ nghỉ này, có thể sẽ phải hối hận. Từ tối Chủ nhật cho đến nay, thủ đô Trung Quốc bị chìm trong màn sương mù ô nhiễm dày đặc, khiến tầm nhìn bị hạn chế trong vòng vài mét. Chỉ số chất lượng không khí do đại sứ quán Mỹ công bố đã vượt qua ngưỡng 400 trong khu vực nguy hiểm.

Air France có trụ được qua khủng hoảng ?

Sau vụ bạo động tại trụ sở Air France, mà cảnh tượng hai nhà lãnh đạo công ty hàng không này - áo sơ mi bị xé rách, phải mình trần vượt hàng rào thoát thân trước đám đông biểu tình giận dữ -được truyền đi khắp thế giới, gây tổn hại cho hình ảnh nước Pháp. Le Monde cho rằng « một sự sụp đổ là khó thể tránh khỏi ».

Hoặc là hội nhập, hoặc phải biến mất. Thời gian càng trôi qua thì sự tồn tại của Air France càng bị đe dọa. Sau hãng PanAm rồi đến TWA trong thập niên 90 và những năm 2000, hay mới đây là Swissair, Malev hay Sabena, công ty hàng không uy tín của Pháp có thể nối dài danh sách các công ty bị đóng cửa hay bị một đối thủ cạnh tranh nuốt chửng. Mối đe dọa mà cách đây vài tháng được ban giám đốc nêu ra để thúc đẩy nhân viên nỗ lực hơn trong thương lượng, nay có thể thành hiện thực : ngay cả những tên tuổi lớn cũng có thể bị chìm đắm.

Một lãnh đạo Air France ngậm ngùi : « Nếu trong vòng hai mươi năm qua, ban giám đốc không ‘‘mua’’ lấy sự yên tĩnh đối với nhân viên, thì đã không có ngày hôm nay ». Trong thời kỳ đó Air France rất năng động, đến năm 2004 còn mua lại hãng KLM của Hà Lan, được xếp hàng đầu thế giới.

Nhưng rồi trên bầu trời xuất hiện các đối thủ cạnh tranh : các công ty hàng không giá rẻ trên các tuyến đường ngắn và trung bình, các hãng vùng Vịnh trên tuyến đường dài. Air France bị tấn công tại cả hai thị trường chính, và chi phí hiện nay cao hơn các đối thủ ở châu Âu từ 20 đến 25%. Vụ đình công kéo dài hai tuần lễ của các phi công tháng 9/2014 để chống lại việc thành lập chi nhánh giá rẻ Transavia Europe đã gây thiệt hại nặng cho hãng.

Tuy chỉ trích hành động này của giới phi công, nhưng Nhà nước Pháp đang nắm 17% vốn, theo Le Monde cũng phải chịu một phần trách nhiệm. Trong nhiều năm trời, dù thuộc cánh tả hay cánh hữu, chính quyền luôn muốn dàn xếp cho qua để tránh các cuộc đình công thay vì tính đến tầm vóc và nguy cơ của khủng hoảng. Và như thế, một khi Air France lọt vào tay nước ngoài, sẽ là một thất bại cay đắng cho Nhà nước Pháp.

Thụy My

(RFI)

Việt Nam nhắm tới cải cách và gia tăng đầu tư từ thỏa thuận TPP

S
au thỏa thuận mới đạt được về Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Việt Nam hy vọng sẽ gia tăng gấp đôi thương mại khi được tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường Mỹ, giúp thu hút các nhà sản xuất trên thế giới và thúc đẩy cải cách nền kinh tế kém hiệu quả và đầy dẫy tham nhũng.

Một quốc gia với 90 triệu dân, Việt Nam đã trỗi dậy từ một cuộc khủng hoảng ngân hàng trầm trọng để trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất Đông Nam Á bằng cách thu hút một loạt các nhà sản xuất trên thế giới, từ tập đoàn công nghệ Samsung đến các nhà cung cấp cho những thương hiệu thời trang Nike và Uniqlo.

Trước đồng lương gia tăng nhanh chóng ở Trung Quốc, trung tâm sản xuất chính của thế giới, các nhà sản xuất đã bị chi phí lao động thấp của Việt Nam hấp dẫn – khoảng một nửa mức của Trung Quốc – và vị trí trung tâm của Việt Nam ở châu Á.

Sự phát triển công nghiệp đã giúp cho kinh tế Việt Nam đạt mức 6,5% trong chín tháng đầu năm nay, nhanh nhất kể từ năm 2010, trong khi việc giải ngân vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng 8% trong cùng kỳ, lên đến 9,7 tỷ USD.

Theo các nhà kinh tế và sản xuất, TPP và thỏa thuận thương mại với Liên minh Âu Châu (EU) ký kết gần đây sẽ giúp Việt Nam gia tăng hơn nữa uy thế xuất khẩu và mang tới đầu tư nước ngoài nhiều hơn.

Các viên chức theo khuynh hướng cải cách trong chính quyền Cộng sản Việt Nam xem thỏa thuận thương mại như “chìa khóa” có thể được dùng để thúc đẩy tự do hóa một nền kinh tế vẫn còn bị kềm giữ bởi những bế tắc cơ sở hạ tầng và các doanh nghiệp nhà nước lắp ghép và kém hiệu quả.

Nhưng đòi hỏi của TPP đối với 11 quốc gia tham gia, trong đó bao gồm Mỹ, Nhật Bản và Úc, là mở rộng kinh tế nhiều hơn cho cạnh tranh nước ngoài và thực thi những tiêu chuẩn lao động và môi trường nghiêm ngặt, sẽ khó khăn cho Việt Nam trong việc áp dụng và thực hiện những rủi ro chính trị và kinh tế.

“Việt Nam đã có bước tăng trưởng rất lớn trong ngành sản xuất quần áo và giày dép, và hai thỏa thuận thương mại này sẽ giúp đẩy mạnh lợi thế cạnh tranh khi các hãng xưởng tìm cách rời khỏi Trung Quốc, thúc đẩy sự gia tăng việc làm và chuyển giao công nghệ hơn nữa”, Johanna Chua, một nhà kinh tế tại Citigroup cho biết.

Những nước Á châu không nằm trong TPP khác như Campuchia, Indonesia, Myanmar và Thái Lan, có thể bị thua thiệt trong trận chiến lôi kéo các nhà sản xuất quốc tế, bà Chua cảnh báo.

H2


​Crystal Group, một trong những nhà xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới về doanh thu, tuyển dụng 17.000 công nhân ở Việt Nam để làm hàng cho các thương hiệu như Gap, Marks & Spencer và Uniqlo.

Các công ty có trụ sở ở Hồng Kông đã lập kế hoạch mở rộng lực lượng lao động của họ ở Việt Nam để dần dần giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc, nhưng thỏa thuận TPP sẽ mang lại thêm động lực cho họ, ông Andrew Lo, giám đốc điều hành cho biết.

Ông Bosco Law, phó giám đốc công ty Lawsgroup, nhà sản xuất hàng may mặc có trụ sở ở Hồng Kông đang khuếch trương tại Việt Nam, cho biết, TPP “chắc chắn sẽ khuyến khích đầu tư nước ngoài”, nhưng nói thêm rằng các doanh nghiệp “phải xem xét những điểm chi tiết” trước khi họ có thể thẩm định những lợi ích.

Frederic Neumann, một nhà kinh tế tại HSBC, tự tin rằng TPP sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho các nhà sản xuất ở Việt Nam và những nước có chi phí lao động thấp khác trong nhóm như Mexico và Peru.
Ông nói: “Các ngành như sản xuất phụ tùng xe hơi vẫn được Mỹ bảo vệ kỹ lưỡng. Thái Lan đã có bước tiến đáng kể trong ngành công nghiệp xe hơi, nhưng sự vắng mặt trong TPP sẽ cho phép Việt Nam và / hay Mexico nhảy vào”.

Nhưng những lợi ích của TPP đối với Việt Nam không phải không có những thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là hoàn thành các điều khoản nghiêm ngặt của chương lao động của TPP, điều mà lần đầu tiên sẽ bắt phạt thương mại đối với bất kỳ nước nào vi phạm các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế.

Việt Nam sẽ phải sửa đổi hệ thống công đoàn lao động do đảng Cộng sản kiểm soát để cho phép người lao động thành lập công đoàn độc lập – một đòi hỏi khó khăn, theo các viên chức Mỹ.

Việt Nam cần phải đáp ứng các điều kiện trước khi TPP có hiệu lực, là điều khá khó khăn vào thời điểm mà giới lãnh đạo Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển tiếp trước Đại hội Đảng Cộng sản mỗi 5 năm, vào năm tới.

Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Công Thương của Việt Nam, phát biểu tại một cuộc họp báo hôm thứ Hai rằng, Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng để đáp ứng các tiêu chuẩn. “Đây là các điều kiện của Tổ chức Lao động Quốc tế và Việt Nam là một thành viên trong đó”, ông nói.

Nhưng cam kết bằng miệng không đủ. Việc Mỹ thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động nghiêm ngặt, một phần là do tình hình chính trị và ước muốn của Tổng thống Barack Obama để chiếm cảm tình của nhiều đảng viên Dân chủ, những người từng phản đối TPP và chính sách thương mại tổng thể của ông.

Vì thế, Việt Nam có thể sẽ phải đối mặt với sự kiểm tra kỹ lưỡng, đặc biệt là thỏa thuận này bao gồm một điều khoản về một ủy ban độc lập gồm các chuyên gia giám sát sự tiến bộ về cải cách lao động trong vòng ít nhất là 10 năm đầu tiên sau khi TPP có hiệu lực.

Financial Times

Tác giả: Ben Bland và Shawn Donnan

Người dịch: Trần Văn Minh

06-10-2015

(Việt Báo)