Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Học-Nghệ Thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Học-Nghệ Thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Phú Quang: ‘Hà Nội là quê hương’

Nhạc sĩ Phú Quang
                                                                   Nhạc sĩ Phú Quang

Chương trình âm nhạc tuần trước, Cát Linh đã giới thiệu các bài hát về mùa thu Hà Nội, cảm nhận thời khắc đẹp nhất của mùa thu Hà Nội qua những bản nhạc được sáng tác bởi nhiều nhạc sĩ. Trong đó, có Phú Quang, người nhạc sĩ đã thốt lên rằng ở Việt Nam, không có nơi nào có mùa thu đẹp như ở Hà Nội. Hôm nay, xin mời quí vị theo dõi những chia sẽ của Phú Quang về triết lý sáng tác của mình, và hiểu vì sao Hà Nội là người tình muôn thưở trong nhạc phẩm của ông.

Hà Nội là quê hương


“Chiều đông sương giăng phố vắn

Hàng cây lặng câm, hát câu mặc trầm

Ta còn chờ ai, nhạt phai sắc nắng

Heo mây tan nhoà, bao giấc mơ xưa….” (Lãng đãng chiều đông Hà Nội)

Nhạc sĩ Phú Quang đến với âm nhạc rất sớm. Ông học nhạc từ năm 8 tuổi, và bắt đầu sáng tác từ năm 17 tuổi.

“Ngày xưa tôi rất thích thơ văn. Và tôi nghĩ là khi lớn lên tôi sẽ học chuyên về văn học, nhưng mình học nhạc năm 8 tuổi. Đó là cái nghiệp, nên sau này lớn lên thì mình làm nhạc sĩ. Hồi đó tôi cứ nói đùa với mọi người là cũng may là nhạc sĩ, chứ nếu là nhà văn thì bây giờ người ta cứ gọi là nhà văn trẻ.”

Có lẽ chính vì điều này mà khi nghe những ca khúc của Phú Quang, từ tên gọi cho đến ca từ, chúng ta có cảm giác như đang nghe những vần thơ nhảy múa trong giai điệu. Cả những hình ảnh ông nhắc đến trong nhạc phẩm, cũng đầy chất thơ, như cây bàng, mùi hoa sữa, như tiếng dương cầm, như góc phố đêm.

Thật ra, khi được hàn huyên với Phú Quang, mới hiểu được rằng, ông yêu Hà Nội đâu phải chỉ riêng vì mùa thu. Mà cái tình của ông dành cho Hà Nội là cái tình của một người dành cho quê hương của mình. Ông yêu Hà Nội, yêu cả 4 mùa mưa nắng, yêu mỗi “buổi chiều đông sương giăng phố vắng”, yêu “hàng cây lặng câm, hát câu mặc trầm.”

“Ngay từ đầu tiên khi sáng tác, tôi chủ trương nói về nhân văn, nói những vấn đề nhân văn thôi, về con người, về tình yêu thương. Nếu để ý thì các tác phẩm của tôi, kể cả nhạc không lời cũng đều xoay quanh chủ nghĩa nhân văn. Với tôi thì không có gì gần gũi hơn và không có gì là mới mẻ hơn là con người nữa, và tất cả những điều xảy ra trong cuộc đời.”

Có phải là chỉ có người Hà Nội mới yêu Hà Nội như thế và viết nhiều về Hà Nội như thế không? Câu trả lời của Phú Quang rằng ông không dám nói ông là người Hà Nội nếu xét theo quan điểm người Hà Nội phải được sinh ra tại Hà Nội.

“Viết nhiều về Hà Nội vì rất đơn giản thôi, tôi coi Hà Nội là quê hương của mình. Thì bao giờ, cả với tôi hay bất kỳ người nào viết về quê hương của mình đều rất triều mến và sâu sắc.”

Đối với ông, nếu đã là quê hương thì cho đến ngày cuối đời cũng vẫn nhớ, có thể là một dòng sông, một hàng dừa, một làng quê, một thành phố, cho dù có đi xa thì vẫn luôn nhớ về.

“Hà Nội ơi, mỗi khi lòng xác xơ 
Tôi vội vã trở về 
Lấy cho mình dù chỉ là chút bóng đêm trên đường phố quen 
Dù chỉ là một chiều hương giăng lối cũ…” (Hà Nội ngày trở về)

Hạnh phúc từ những điều nhỏ bé

Người ta có thể tìm thấy trong ca khúc của Phú Quang tất cả những hình ảnh đơn giản nhất trong một nhịp đời bình thường nhất. Từ mùi hương hoa sữa, đến cây hoàng lan trên con đường vắng. Từ những cơn mưa rả rích cho đến cây bàng đặc trưng của Hà Nội. Hình như với Phú Quang, có phải ông luôn chủ ý sắp đặt cuộc đời này bằng tất cả những chủ thể bình dị nhất trong cuộc sống hay không?

“Tôi nghĩ thật ra trong cuộc đời này, giống như người ta lọc mãi để lấy ra 1 thứ tinh chất, thì cái điều giản dị cũng như một thứ tinh chất người ta đã lọc ra đến tận cùng rồi. thì điều giản dị tưởng thế thôi nhưng rất khó. Tất cả mọi điều trong cuộc đời này đến tận cùng của nó đều rất giản dị. Ngay cả tình yêu, những điều tốt đẹp, sâu xa đến lúc nhận ra thì hoá ra nó rất đơn giản. Cuộc đời giản dị lắm, chỉ có đúng và sai.”

“Dịu dàng hạt nắng, đùa nhẹ trên áo, đôi môi em gợi bao khát khao, mắt em vời vợi thăm thẳm trời cao,em mong manh tựa rừng cây trút rơi lá, gió chiều bỗng chợt sao xuyến mãi không nguôi…” (Điều giản dị)

Phú Quang đã đưa một triết lý về hạnh phúc vào ca khúc của mình. Đối với ông, hạnh phúc chỉ đơn giản là những điều đơn giản nhất.

“Ngay từ rất nhỏ, tôi đã được va vấp để được hiểu rằng đau khổ và cái hạnh phúc là những cái luôn đồng hành với mọi người. Tất cả những gì lớn lao nhất, chính là những điều nhỏ bé nhất. Tôi nghĩ rằng nếu không có tình yêu và niềm tin thì con người sẽ không có gì cả. Tất cả mọi cái phải xuất xứ từ những điều rất nhỏ bé. Người ta cứ thích nói những điều lớn lao. Nhưng tôi thì nhận ra rằng sau những điều nhỏ bé ấy đủ để nói lên hết cuộc đời rồi.”

Đền Ngọc Sơn, Hà nội
Đền Ngọc Sơn, Hà nội
Trong nhạc của Phú Quang, người ta thấy hiện lên đâu đó không phải chỉ là một Hà Nội âm thầm cổ kính, mà ca khúc của ông còn là những cuộc tình lãng mạn, đôi khi buồn, nhưng không đau khổ. Ông nhìn thấy cây bàng mồ côi, mảnh trăng mồ côi, nóc phố mồ côi, nhưng bao trùm quanh đó vẫn là một màu xanh của thời gian. Ông nhìn thấy giai điệu lạc quan ngay cả trong hoang tàn, đổ nát.

Bắt đầu sự nghiệp sáng tác năm 1969. Đó là giai đoạn mà chiến tranh đang diễn ra khốc liệt. Phú Quang cũng không tránh được những ám ảnh đau thương mất mát của cuộc chiến. Nhưng nhạc của ông hiếm khi xuất hiện màu đen ấy. Ông nói rằng cảm nhận duy nhất của mình về chiến tranh là hình ảnh bà cụ 70 tuổi đứng nhìn người ta mang xác của 26 người con, cháu ra khỏi khu đài tưởng niệm ở phố Khâm Thiên. Nhưng  cụ không thể khóc và cũng không kêu gào, chỉ lặng lẽ cầm 1 viên gạch. Đó chính là cảm xúc để ông viết lên ca khúc “Em ơi Hà Nội phố”.

“…Mùa đông năm ấy 
Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ 
Tan lễ chiều sao còn vọng tiếng chuông ngân 
Ta còn em một màu xanh thời gian 
Một chiều phai tóc em bay 
Chợt nhòa, chợt hiện 
Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố 
Bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường…” (Em ơi Hà Nội phố)

“Ngày mà tôi về biểu diển trở lại trên phố Khâm Thiên, khi tôi tự hát thì mọi người rất xúc động. Thú thật lúc tôi hát, lúc giới thiệu lên thì không biết có vì là mình quá suy nghĩ về những kỷ niệm xót xa mà tôi có cảm giác như có những linh hồn về, và  tôi nghẹn lời không nói được. Tôi phải khấn thầm.”


Nhạc của Phú Quang là Hà Nội. Và Hà Nội là người tình trong nhạc của Phú Quang. “Người tình” ấy mãi mãi là những con đường vắng, những đêm dài im lặng, những cây bàng mồ côi nhưng không cô độc. Hà Nội của Phú Quang, của những người sinh ra hay không sinh ra ở Hà Nội mãi mãi là nơi chất chứa những hạnh phúc được gom góp từ những điều nhỏ bé nhất

Cát Linh

(RFA)

Giai thoại tình ca : nhạc phẩm Love Story

Giai thoại tình ca : 40 năm nhạc phẩm Love Story

Ngày 20/3/1971, nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Love Story nhảy vọt lên hạng đầu thị trường nhạc nhẹ Hoa Kỳ, để rồi ngự trị trên đỉnh cao trong vòng 4 tuần lễ liên tục. Ca khúc ăn khách thời bấy giờ là của danh ca Andy Williams, nhưng sau đó đã đi vòng quanh trái đất với gần 800 phiên bản, ghi âm bằng 25 thứ tiếng, kể cả tiếng Việt.

Nhiều nhà phê bình cho rằng Love Story là một bản nhạc xuất sắc, xứng đáng được liệt vào hàng kiệt tác. Theo bình chọn của Viện Phim ảnh Hoa Kỳ American Film Institute, tác phẩm này nằm trong 100 bản nhạc phim hay nhất mọi thời đại. Nhạc phim Love Story đứng hạng thứ 9, chỉ thua các nhạc phim kinh điển như Casablanca, Cuốn theo chiều gió, West Side Story, Bác sĩ Zhivago nhưng lại vượt qua mặt My Fair Lady, Bố già, Titanic hay Đỉnh gió hú.

Bản nhạc chủ đề gắn liền với bộ phim đến nỗi ít có ai còn nhớ tựa bài hát ban đầu của nó là Where do I begin (tạm dịch là Bắt đầu từ đâu). Khi nghe những nốt nhạc dạo đầu trỗi lên, có lẽ mọi người đều nhận ra ngay và gọi đó là bài Love Story. Một giai điệu nhẹ nhàng lãng mạn, miên man dịu dàng, gieo vào hồn người một chút cảm giác bâng khuâng, một thời xao xuyến rung động. Những nốt nhạc trầm khiến cho tâm hồn thoáng buồn, trong lòng khoảnh khắc tơ vương.

Một trong những nhạc phim hay nhất mọi thời đại

Trong làng nhạc quốc tế, một trong những giọng ca hát trội nhất nhạc phẩm Love Story (Where do I begin) trong tiếng Anh vẫn là danh ca Shirley Bassey. Phiên bản của Shirley rất dễ nhận ra nhờ khúc nhạc dạo đầu với bộ gõ. Ngoài cách nhả chữ độc đáo, hát thoát theo làn hơi nhưng vẫn rõ âm trong những đoạn cao trào, Shirley Bassey còn có sở trường chuyển nhịp hất câu, mà người nghe thường tìm thấy nơi Giọng ca vàng Frank Sinatra. Thành danh từ những năm 1962 – 1963, Shirley Bassey nhờ vào nhạc phẩm Love Story mà được đăng quang thành nữ hoàng của dòng nhạc phim vào thập niên 70. Hầu hết các ca khúc chủ đề của loạt phim điệp viên 007 trong giai đoạn này đều do bà ghi âm. Trong đó có nhạc phẩm Diamonds are Forever, phát hành vào năm 1971, tức là hầu như cùng thời với nhạc phẩm Chuyện tình. Một giọng hát trau chuốt mài dũa tựa như một viên đá quý. Cũng từ đó mà giới chuyên ngành đặt cho Shirley Bassey cho cái biệt danh Diva kim cương (Diamond diva)

Trước khi nổi tiếng là một bản tình ca ướt đẫm nước mắt, nhạc phẩm Love Story trước hết là giai điệu chủ đề của bộ phim của đạo diễn Arthur Hiller. Bộ phim ra mắt khán giả vào cuối năm 1970 (nói cho chính xác là vào ngày 16/12/1970), dựa theo quyển tiểu thuyết vô cùng ăn khách của Erich Segal. Đối với ngành xuất bản, Erich Segal là nhà văn nổi tiếng nhờ một tác phẩm duy nhất, cho dù ông đã sáng tác nhiều cuốn truyện sau đó.

Từ tiểu thuyết phóng tác thành phim

Ban đầu được viết như một kịch bản phim, Love Story không được một hãng phim nào mua bản quyền, nên mới được viết lại thành truyện ngắn đăng trên báo, rồi được hoàn chỉnh thành một quyển tiểu thuyết dày 127 trang, phát hành đúng vào Ngày lễ tình yêu Valentine năm 1970. Khi được hãng phim Paramount chuyển thể lên màn ảnh lớn, bộ phim Love Story làm thổn thức rung động hàng triệu con tim trên thế giới với câu chuyện thương tâm của đôi tình nhân trẻ, yêu nhau ở trường đại học, nhưng lại bị gia đình cấm cản ngăn cách.

Mối tình dang dở ngang trái giữa Jenny một nữ sinh nhà nghèo với Oliver, chàng trai con nhà giàu trở thành tấn bi kịch đẫm lệ, khi căn bệnh ung thư máu cướp đi sinh mạng của cô gái hiền lành. Một lời thoại ở trong phim ("Love means never having to say you're sorry"...) trở thành một trong những câu nói bất hủ của lịch sử điện ảnh Mỹ. Cũng như câu ghi chú ở trang bìa quyển tiểu thuyết : Nàng yêu Mozart, Bach, nhóm Beatles…và Tôi. Có người nói đùa rằng : Nhờ phim này mà tác giả hái ra bạc triệu, các nhà sản xuất khăn mùi xoa cũng vậy.

Nhạc phẩm Love Story do được sáng tác cho bộ phim Mỹ cùng tên với Ali MacGraw và Ryan O’Neal trong vai chính và do đạo diễn Arthur Hiller thực hiện vào năm 1970, nên vẫn được xem là một ca khúc của làng nhạc Anh Mỹ. Thật ra, đây là một bản nhạc Pháp (Une histoire d’amour) do nhạc sĩ Francis Lai sáng tác. Ông nổi tiếng trong làng nhạc phim, từng sáng tác cho 70 phim truyện, trong đó có Un homme et une femme (Một người đàn ông và một người đàn bà) và Le passage de la pluie (Lữ khách đêm mưa).

Thân thế tác giả bài hát

Nổi danh cùng thời với các tác giả Pháp Maurice Jarre (Bác sĩ Zhivago, Lawrence of Arabia) và Michel Legrand (Thomas Crown – Les moulins de mon coeur), tên tuổi của ông đi vòng quanh thế giới sau khi các bài hát được chuyển lời sang nhiều thứ tiếng. Nhạc phẩm Chuyện tình đoạt cùng lúc hai giải Oscar và Quả cầu vàng dành cho ca khúc nhạc phim hay nhất năm 1971, tức cách đây vừa đúng 40 năm. Phiên bản tiếng Việt là do nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời.

Sinh năm 1932 tại miền nam nước Pháp, nhạc sĩ Francis Lai tốt nghiệp nhạc viện thành phố Nice, trước khi đến Paris để lập nghiệp. Thời thanh niên, ông trao giồi thêm nhạc lý với nhiều bậc đàn anh, trong đó có tác giả Bernard Dimey, người đã hướng dẫn ông trong lãnh vực sáng tác nhạc phim. Nổi tiếng trên khắp thế giới từ những năm 1960 như là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái lãng mạn, Francis Lai tách ra khỏi xu hướng hiện thực của dòng nhạc Pháp những năm 1950.

Tác giả Francis Lai quan niệm rằng âm nhạc là một ngôn ngữ không biên giới, chẳng cần đến ca từ mà vẫn có thể ăn sâu vào lòng người. Hầu hết các bản nhạc (kể cả bài Love Story) do ông sáng tác đều không có lời, ca từ tiếng Pháp hay tiếng Anh chỉ được đặt sau đó. Ảnh hưởng này phần lớn xuất phát từ việc ông rất mê nhạc jazz, thời còn trẻ ông ngưỡng mộ hai cây đại thụ là Charlie Parker và Stan Getz.

Trái với điều mà nhiều người lầm tưởng, nhạc khí sở trường của Francis Lai là phong cầm chứ không phải dương cầm hay vĩ cầm, cho dù ông dùng khá nhiều bộ đàn dây để phối khí hòa âm các sáng tác của mình. Bên cạnh đó, ông còn sáng tác rất nhiều ca khúc ăn khách trong làng nhạc nhẹ. Tính tổng cộng, có trên dưới 60 nghệ sĩ tên tuổi từng hát nhạc của ông, kể cả Edith Piaf, Dalida, Aznavour, Patricia Kaas, phía Pháp, Ella Fitzgerald, Elton John hay Carly Simon phía Anh Mỹ.

Giai thoại sáng tác, huyền thoại tình ca

Tính đến nay, Francis Lai đã soạn hơn 600 bản nhạc, hơn một nửa là nhạc phim không lời. Nhưng trong hoàn cảnh nào ông đã sáng tác giai điệu chủ đề của bộ phim Love Story ? Thật ra, ông đã thành danh trong làng nhạc quốc tế từ năm 1966, nhờ soạn ca khúc chủ đề của bộ phim Un Homme et une Femme của đạo diễn Claude Lelouch. Phim này từng đoạt Cành cọ vàng tại Cannes và 4 giải Oscar. Từ năm đó trở đi, ông rất bận rộn với công việc do được nhiều đạo diễn mời hợp tác.

Chính cũng vì thế mà ông đã hai lần từ chối khi hãng phim Paramount có dự án chuyển thể tiểu thuyết Love Story lên màn bạc, bởi vì vào thời điểm đó ông đang phải soạn nhạc chủ đề cho bốn phim khác nhau. Nhà sản xuất người Mỹ Bob Evans mới gọi điện thoại cho nam tài tử Alain Delon nhờ anh thuyết phục tác giả, vì biết rằng hai người là bạn thân của nhau. Vì nể tình bạn, nên Francis Lai lúc đó mới nhận lời, nhưng loay hoay mãi vẫn không tìm ra được một giai điệu ưng ý.

Theo lời kể của chính tác giả thì ông tìm được khúc nhạc Love Story vào lúc nửa khuya, ban đầu sáng tác trên 4 nốt nhạc căn bản, nhưng làm như vậy thì lại gần giống với cấu trúc của một giai điệu vô cùng ăn khách hai năm về trước là nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Romeo & Juliette (A Time For Us của Nino Rota). Do vậy trong câu mở đầu của mỗi đoạn ông cho thêm một nốt nhạc, biến thành 5 trong khi các câu kế tiếp chỉ có 4, nhưng có lẽ cũng vì thế mà giai điệu trở nên lâm ly hơn. Hàng thập niên sau, bản nhạc này vẫn không có một vết nhăn, phần lớn cũng vì giai điệu tự nó đã đứng vững, không lời mà vẫn lôi cuốn. Nhìn lại, mỗi bài hát thường có một giai thoại. Trong trường hợp của Love Story, bản tình ca này đã đi vào huyền thoại.

Tuấn Thảo

(RFI)

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Song Chi - Nhân đọc một status của nhà báo, blogger Lê Diễn Đức

Đây là status của blogger Lê Diễn Đức:

"Một nền văn học có nhất thiết cần được nuôi dưỡng trong một xã hội khai phóng, tự do mới phát triển? Tôi nghĩ không nhất thiết. 

Việt Nam Cộng Hoà có 20 năm khai phóng, tự do đấy nhưng kho tàng văn học chẳng có gì đáng tự hào. Hơn 40 năm ở nước ngoài, sống ở các nước dân chủ, tự do, cộng đồng người Việt đã sản sinh ra tác phẩm văn học nào nổi tiếng ở tầm quốc tế ? 

Thế nhưng, trong môi trường bóp nghẹp tự do vì chính sách kiểm duyệt của chế độ cộng sản vẫn tạo nên những áng văn chương bất hủ. 

Các tác phẩm của các nhà văn đoạt giải Nobel Văn học như Andrei Sacharov, Alexsandr Solzhenitsyn (Liên Xô cũ), Czeslav Milosh (Ba Lan), Herta Muller (Romania) hay gần đấy nhất, của Svetlana Alexievich của Belarus, khôi nguyên Nobel Văn học 2015, đều ra đời trong không khí ngộp thở ấy.

Rõ ràng dân Việt Nam chẳng có tài cán gì về văn chương, các tác phẩm từ xưa đến nay cũng chỉ thuộc loại "ao nhà", chưa vượt qua được luỹ tre làng. Mỗi thi phẩm "Kiều" của Nguyễn Du thì lại vay mượn cốt chuyện của Tàu. Nếu có tự hào thì đấy chính là sự an ủi, tự sướng!"

Đọc được cái status này của blogger, nhà báo Lê Diễn Đức, tôi thấy cần phải nói lại vài ý như sau:

Thứ nhất văn học dưới thời VNCH có thể không có gì đáng tự hào nhưng cũng hơn hẳn văn học dưới chế độ XHCN ở miền Bắc từ sự phong phú, đa dạng, tự do cả trong nội dung lẫn ngôn ngữ văn chương, và nhất là giá trị nhân bản của nó. Thực tế, bây giờ chẳng mấy ai còn nhớ hay muốn đọc lại phần lớn những nhà thơ, nhà văn với những tác phẩm tuyên truyền giai đoạn 1954-1975 ở miền Bắc, nhưng theo thời gian người đọc đã, đang và vẫn sẽ đọc lại từ thơ Nguyên Sa, Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Du Tử Lê, Trần Dạ Từ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng…; văn học của Sơn Nam, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Cung Tích Biền, Trần Thị NgH, Nguyễn Mộng Giác, Võ Phiến…

Thứ Hai, đừng so sánh người Việt, văn chương Việt với quốc tế. Chúng ta đều biết rất rõ rằng, với “hành trang văn hóa” rất mỏng, với tài năng vừa ít vừa chưa tới đâu của dân tộc này thì việc chưa có và sẽ còn lâu mới có được những tác phẩm tầm cỡ thế giới là điều dể hiểu. Nếu nói đến nền văn học VNCH thì hãy so sánh nó với nền văn học XHCN ở miền Bắc cùng thời, hoặc giữa nền văn học ở miền Bắc trước và sau Cách mạng tháng Tám để thấy “Một nền văn học có nhất thiết cần được nuôi dưỡng trong một xã hội khai phóng, tự do mới phát triển?” hay không. 

Trước CMT8 chúng ta đã kịp có hàng loạt nhà văn nhà thơ tài hoa như nhóm Tự lực văn đoàn, rồi Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… những nhà thơ như Vũ Hoàng Chương , Đinh Hùng, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Nhược Pháp, Hàn Mạc Tử…Trong đó, có những nhà thơ nhà văn sau này tiếp tục sống và sáng tác trong chế độ “mới” nhưng những tác phẩm hay nhất làm nên tên tuổi của họ là được ra đời trước CMT8!

Cũng để trả lời cho câu hỏi trên, trên thế giới có bao nhiêu nhà văn lớn với những tác phẩm lớn ra đời nhờ sống trong môi trường tự do, dân chủ, chỉ tính từ cuối thế kỷ XIX tới nay thôi, ví dụ như Henry Miller, Ernest Hemingway, Henrik Ibsen, Tennessee Williams, Toni Morrison, Cao Hành Kiện (nhà văn lưu vong của TQ), Marcel Proust, Vladimir Nabokov, James Joyce, F. Scott Fitzgerald, William Faulkner, Virginia Woolf…trong khi đó có bao nhiêu nhà văn của chế độ cộng sản? Hoặc có thể so sánh, văn học Nga thế kỷ XIX lẫy lừng với bao tên tuổi như Lev Tolstoy, Fyodor Dostoyevsky, Anton Chekhov, Nicolai Gogol, Mikhail Lermontov, Ivan Turgenev, Ivan Bunin… nhưng trong chế độ cộng sản thì được mấy người? Bởi vì ngay cả trong những chế độ phong kiến quân chủ như nước Nga thế kỷ thứ XIX, nhà văn và văn nghệ sĩ vẫn còn được tự do hơn dưới thời cộng sản.

Trong những nhân vật mà blogger Lê Diễn Đức nêu ra, ví dụ như Andrei Sacharov thì không phải là nhà văn mà là nhà vật lý hạt nhân, nhà bất đồng chính kiến Xô viết và nhà hoạt động nhân quyền. 1975 ông được tặng giải Nobel Hoà bình chứ không phải Nobel văn học.

Trường hợp nhà văn Alexsandr Solzhenitsyn, theo như đánh giá của rất nhiều nhà văn, nhà phê bình văn học cùng thời và sau này, ông được trao giải chủ yếu vì sự dũng cảm, vì giá trị tố cáo chế độ, tố cáo xã hội trong những tác phẩm của mình hơn là giá trị văn chương, bởi nếu so sánh ông với nhiều nhà văn lớn khác chưa hề đoạt giải Nobel như James Joyce, Vladimir Nabokov, Jorge Luis Borges… rõ ràng là họ hơn hẳn về mặt văn tài. Đừng quên, giải Nobel Văn học đôi khi cũng có tính chính trị.

Với trường hợp nhà thơ, nhà văn Czesław Miłosz, năm 1951 vì bất đồng chính kiến ông xin tỵ nạn chính trị tại Pháp. Năm 1960 sang Mỹ. Những tác phẩm lớn của ông là sáng tác trong hai môi trường tự do dân chủ Pháp và Mỹ. 

Nhà thơ, nhà văn người Đức sinh tại Romania Herta Müller về sau này cũng phải di cư sang Tây Đức. Hiện nay, bà sống tại thủ đô Berlin. 

Những điều đó nói lên rằng, môi trường xã hội dưới thời công sản có thể là nguồn cảm hứng, đề tài, kho tư liệu vô tận cho các nhà văn nói riêng và văn nghệ sĩ nói chung nhưng muốn yên ổn, sáng tác được, phần lớn họ cũng phải chuyển sang sống trong những môi trường tự do dân chủ hơn.

Với trường hợp mới nhất, Svetlana Alexievich thì không phải là nhà văn. Bà là nhà báo chuyên viết điều tra và những tác phẩm phi hư cấu (non-fiction), và được xem là nhà báo đầu tiên đoạt giải Nobel Văn chương.

Anh Lê Diễn Đức, anh có thể không thích chế độ VNCH từ lá cờ cho tới nền văn học, dù tôi tin rằng anh chưa đọc được bao nhiêu trong cả nền văn học đó, nhưng không thể vì thế mà lại cho rằng “Một nền văn học có nhất thiết cần được nuôi dưỡng trong một xã hội khai phóng, tự do mới phát triển? Tôi nghĩ không nhất thiết.” Là nhà báo, đừng để cho những định kiến, yêu ghét cá nhân làm ảnh hưởng tới những quan điểm, lập luận của mình điều mà tiếc thay, anh lại hay để cho xảy ra .

TB: Khi viết xong status này nhìn lại trang của blogger Lê Diễn Đức thì mới hay ông Lê Diễn Đức đã được nhạc sĩ, nhà nghiên cứu lý luận phê bình âm nhạc và văn chương Hoàng Ngọc-Tuấn nhắc nhở chi tiết sai về Andrei Sacharov và đã edit lai, nhưng tôi vẫn giữ nguyên bài của mình không đổi.


Song Chi

(FB Song Chi)

Tuấn Khanh - Trung Quốc dùng điện ảnh như thuốc tẩy não

Tranh của họa sĩ  Kuang Biao (Trung Quốc)
                                               Tranh của họa sĩ Kuang Biao (Trung Quốc)

Mới đây, anh bạn trẻ làm trong ngành phê bình điện ảnh kể rằng anh bực tức khi xem đến đoạn kết ngớ ngẩn trong phim The Assassin (2015). Nữ sát thủ trong tác phẩm dày công của đạo diễn Đài Loan Hầu Hiếu Hiền rốt cuộc từ bỏ nhiệm vụ giết kẻ ác vì sợ thế gian loạn lạc, nhân dân không còn “yên ổn làm ăn”. Sự bực tức của anh bạn trẻ, bởi anh quá bất ngờ khi tên tuổi đạo diễn, diễn viên… cùng một kinh phí cao ngất đã bị biến thành một mệnh đề chính trị tuyên truyền hết sức kỳ quặc.

Không phải mới đây, mà nhiều thập niên trước, chính quyền Trung Quốc đã ráo riết vận dụng điện ảnh cho mục đích tuyên truyền của mình – nhằm vào người dân trong nước cũng như bên ngoài. Ngân sách cho đường lối này không có giới hạn, tuỳ theo chủ trương hay tình hình thời sự. Vỏ bọc của một nền điện ảnh đầy chất “nghệ thuật” nhưng lồng chứa những âm mưu chính trị đang là một xu hướng rất rõ của Bắc Kinh.

Cuối năm ngoái, phát biểu tại Đại hội điện ảnh Trung Quốc, ông Liu Qibao (Lưu Kỳ Bảo), Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Trưởng ban tuyên truyền Trung ương nhấn mạnh rằng “làm gì thì phim ảnh cũng phải phản ánh cho được tầm nhìn của của chủ tịch Tập Cận Bình và giấc mơ Trung Quốc”. Việc công khai biến nền điện ảnh của mình thành một bộ máy tuyên truyền cho thế hệ mới, tiêm vào họ những liều vĩ cuồng và chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang là một trong những tiêu chí quan trọng của từng sản phẩm từ đại lục.

Để làm được như vậy, Bắc Kinh đang từng bước đồi truỵ hoá những thế hệ điện ảnh tài năng của mình bằng ép buộc, bằng danh và lợi. Người ta nhìn thấy được biểu đồ đi xuống đáng buồn của các danh tài như Trương Nghệ Mưu, Từ Khắc, Thành Long… chỉ vì thoả hiệp với chính quyền. Cũng từ chính sách này mà điện ảnh Trung Quốc xuất hiện nhiều siêu phẩm tốn kém, cực kỳ nghệ thuật, công phu như ý nghĩa thì tầm ruồng, khiến khán giả hụt hẩng.

Từ lúc kinh tế phát triển, Bắc Kinh nhận ra rằng điện ảnh là một vũ khí quan trọng để quảng bá tư tưởng của mình. Trở thành một trong 3 quốc gia sản xuất phim nhựa nhiều nhất thế giới, chỉ sau Mỹ và trên Ấn Độ, với hơn 500 phim nhựa mỗi năm, tự Bắc Kinh cũng xem đây như là một mặt trận văn hoá. Tháng trước, ông Zhang Hongsen (Trương Hồng Sâm), Cục trưởng Quản lý Phát thanh, Phim và Truyền hình đã nói trên báo chí rằng điện ảnh Trung Quốc cần phải luôn xem như mình đang có chiến tranh với Hollywood vậy.

Một trong những kế hoạch lớn lao mà Trung Quốc từng vận lực để trình diễn, đó là việc thực hiện bộ phim “Kiến Đảng Vĩ Nghiệp”. Bộ phim này được coi như là chiến dịch quảng bá quan trọng cho lễ kỷ niệm 90 năm của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng là cách mà Bắc Kinh âm mưu viết lại lịch sử Trung Quốc, rằng nền văn minh tốt đẹp nhất của đất nước này chỉ đáng nhớ, đáng học kể từ khi cộng sản quốc nội ra đời vào năm 1949.

Chính quyền Trung Quốc đã tài trợ đến 12 triệu USD cho phim này, kêu gọi tất cả các nam nữ diễn viên danh tiếng tham gia và buộc các học sinh, sinh viên, công nhân… phải đi xem bằng cách đưa vé, trừ thẳng vào tiền lương, tiền học bổng. 6.200 rạp hát trên đại lục được lệnh phải công chiếu cùng lúc. Hàng ngàn dư luận viên được lệnh trực trong các rạp và bắt nhịp hát các bài ca cách mạng ca ngợi đảng ngay khi phim vừa hết. Thậm chí không ngại tốn kém, Bắc Kinh còn bỏ tiền cho công chiếu ở 29 rạp tại nước Mỹ, trong đó, bắt buộc phải có ở New York và Los Angeles, tức nơi có nhiều hoa kiều cư ngụ.  Cùng lúc đó, phim Wuxia (Võ hiệp / Dragon) với Chung Tử Đơn và “yếu tố nước ngoài” là Takeshi Kaneshiro (Kim Thành Vũ / Đài Loan-Nhật) có vẻ lấn sân, lập tức mọi nơi đều được lệnh không được quảng cáo phim này hàng ngày.

Mỗi ngày, các lý thuyết gia và tư tưởng văn hoá của Trung Quốc được lệnh nghiên cứu các kịch bản để làm sao lồng vào đó các mầm mống tuân phục, trung thành và chấp nhận sự lãnh đạo, dù như thế nào đi nữa. Đừng ngạc nhiên là từ năm 2002, Trương Nghệ Mưu đã làm phim Hero (Thích Khách Kinh Kha) với tư duy là Kinh Kha thà chết, chứ không giết Tần Thuỷ Hoàng vì nghe tay Hoàng đế này hỏi rằng liệu hắn ta chết thì liệu sẽ có được một chế độ tốt hơn và ổn định hơn không, và thiên hạ sẽ ra sao, khi không còn “yên ổn làm ăn” bởi đại loạn. Ngay trong The Assassin (Đồng Tước Đài – 2012), đạo diễn Triệu Lâm Sơn cũng có một kịch bản Tào Tháo nói như khóc với vua, rằng hãy tiếp tục trị vì bởi “Ngài là hoàng thượng, quỷ thần đều phải kinh sợ”. Tào Tháo được vẽ lại với khuôn mặt hung dữ bề ngoài, bởi luôn muốn mạnh mẽ để bảo vệ bời cõi và sống chết với thuyết Khổng Tử: mãi mãi tôn thờ bề trên dù đó là hôn quân.

Không được nghĩ đến một cuộc cách mạng nào khác, trung thành và chấp nhận như một sĩ khí mới mẻ là cách mà Trung Quốc đang bơm vào đầu thế hệ mới thông qua phim ảnh. Bất chấp trong lịch sử, Đảng Cộng sản lại là kẻ luôn kêu gào cách mạng, luôn âm mưu thay đổi, tiếm quyền.

Sáng tạo và thâm độc hơn cả P.J. Göbbels, Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Đức Quốc xã, Bộ Chính trị Trung Quốc thiết kế một hệ thống tuyên truyền êm dịu và kiên nhẫn để đối nội và cả đối ngoại. Trong nhiều thập niên, phim ảnh của Bắc Kinh được chia sẻ với giá rẻ mạt hoặc biếu tặng thường kỳ cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trung Quốc được mến mộ qua phim cổ trang, lịch sử Trung Quốc được nhồi đến trẻ em cũng thuộc lòng, và nhân dân thì quen dần với cuộc sống chấp nhận mọi thứ, như lý lẽ cao siêu được phát đi từ màn ảnh.

Bắc Kinh tin rằng điện ảnh của mình, cùng với sức mạnh kinh tế, sẽ phát tác ở những nơi mình nhắm đến. Đầu năm nay, Nam Phi bắt đầu xếp tiếng Hoa làm một trong những ngoại ngữ chính ở bậc tiểu học. Thầy giáo bản ngữ cũng được cung cấp miễn phí từ Bắc Kinh. Sau nhiều năm chia sẻ và thuận hoà với chính quyền Trung Quốc, Nam Phi bắt đầu xem nhiều phim kungfu hơn và từ chối cấp visa cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Trẻ em Nam Phi khi học tiếng Hoa, xem phim lịch sử Trung Quốc cũng được dạy rằng Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 không được chào đón ở quê hương của chúng, vì ông ta là một kẻ không cần thiết.

Tuấn Khanh

(Blog Tuấn Khanh)

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Tưởng Năng Tiến - Nhà Thơ & Nhà Thổ

Nhà thổ thì ai cũng có thể chường mặt vào bất cứ lúc nào, còn ở nơi được mệnh danh là cường quốc thơ mà chuyện ra/vào cũng (y) như vậy hay sao ?
Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ. - Nguyễn Khoa Điềm

Thỉnh thoảng, tôi cũng có (lén) làm một bài thơ ngăn ngắn. Những câu thơ được ghi chép nắn nót trên những trang giấy trắng tinh, rồi trân trọng gửi đến những toà soạn báo (ở khắp mọi nơi) với địa chỉ tác giả, ghi rõ ràng ở mép trái của phong bì.

Tất cả sáng tác của tôi, than ôi, đều "một đi không trở lại". Chưa bao giờ tôi nhận được hồi âm, dù muộn.

Cứ thế, từ thập niên này sang thập niên khác, tôi sống thường trực trong tâm trạng của một kẻ đợi chờ trong buồn rầu, và... thất vọng. Tôi thất vọng vì tài năng thi phú của mình không được người đời nhìn nhận !

Cho đến chiều 25 tháng 4 vừa qua - tình cờ, và bất ngờ - tôi đọc được vài dòng nhắn tin (ngắn ngủi nhưng rộn ràng) qua F.B :
Thái Kế Toại to‎ Tưởng Năng Tiến

April 25

Xin chào anh. Tôi đã tuyển thơ anh in trong tập Vầng trăng lưu lạc. tuyển tập thơ hải ngoại cho Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội xuất bản năm 1994. Lê Hoài Nguyên
Úy Trời/ Đất, Qủi/ Thần, Thiên/ Địa, mèn đéc, ơi ! Sao thơ của con người ta được in từ hồi năm 1994 lận mà sao tới bữa nay mới chịu cho hay ("kỳ cục vậy") cha nội ? Thì tui cũng làm bộ trách "nhẹ" cho nó có vậy thôi, chớ trong bụng (nói thiệt tình) vui râm ran nguyên tháng và sướng âm ỉ gần năm ! Cái ước vọng được chường mặt ra trong thơ của tôi, cuối cùng, đã trở thành hiện thực.

Cụm từ này tôi học được từ một bài viết ngắn ("Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm") trên báo Lao Động, số ra ngày 5 tháng 6 năm 2011 : "Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ".

Đúng là ngôn ngữ và phong cách của một nhà qúi tộc, nhà thơ và "nhà chính trị" theo như nguyên văn của Wikipedia - tiếng Việt :

Nguyễn Khoa Điềm (tên khác là Nguyễn Hải Dương ; sinh 15 tháng 4 năm 1943) là một nhà thơ, nhà chính trị Việt Nam. Ông là ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX ; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, cựu Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Nguyễn Khoa Điềm sinh tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Thân sinh của ông là nhà báo Hải Triều, thuộc dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng, gốc An Dương (tỉnh Hải Dương cũ nay là Hải Phòng). Quê quán : làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Lúc nhỏ Nguyễn Khoa Điềm học ở quê. Năm 1955 ông ra miền Bắc học tại trường học sinh miền Nam. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng một lứa với Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân.

Sau đó, ông vào miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế ; tham gia quân đội, xây dựng cơ sở của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, viết báo, làm thơ... cho đến năm 1975. Nguyễn Khoa Điềm từng bị giam tại nhà lao Thừa Phủ. Đến chiến dịch Mậu Thân 1968, ông được giải thoát, tiếp tục trở lại hoạt động. Vào thời điểm này, Nguyễn Khoa Điềm mới bắt đầu làm thơ.

Tôi sinh sau đẻ muộn nên không có cái may mắn được sống cùng thời/cùng nơi với Bộ Trưởng Văn Hóa Nguyễn Khoa Điềm, chỉ được nghe (tiếng) ông chính là nhân vật đã ("lỡ") ném vào máy nghiền cuốn Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn.

Tiếng dữ đồn xa, và đồn nhanh nên mãi sau này tôi mới biết thêm rằng ngoài việc làm văn hoá, ông còn làm thơ nữa, và là một tác giả quan trọng, với tác phẩm đã được đưa vào giáo trình văn học cách mạng. Chương trình lớp 9, môn văn, có bài "Phân Tích Thơ Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ" của Nguyễn Khoa Điềm. Xin được trích dẫn, đôi đoạn, để mọi người cùng thưởng lãm :

Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ

Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng

Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối

Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông

Mẹ địu em đi để giành trận cuối

Sự lặp lại hai câu thơ Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi, Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưngmẹđã tạo nên âm điệu ngân nga, thấm dần vào người đọc một cảm xúc thân thương. Con cùng mẹ băng suối, vượt ngàn, đạp rừng xông tới. Cả nhà, cả làng, cả nước cùng đánh giặc.

Nhịp thơ sôi nổi, thôi thúc như một hành khúc lên đường. Câu kết vẽ lên hình ảnh thật xúc động :

Từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường

Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn.

Lời thơ khẳng định ý chí chiến đấu mãnh liệt của bà mẹ Tà-ôi nói riêng và đồng bào miền tây Thừa Thiên Huế nói chung. Lúc này, mẹ và em cùng lên đường vào Trường Sơn đánh giặc, nơi có biêt bao khó khăn vất vả, nơi cái chết và sự sống chỉ cách nhau gang tấc.

Kết thúc bài thơ vẫn là lời hát ru và ước nguyện của mẹ :

Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi

Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất nước

Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ

Mai sau con lớn làm người Tự do…

Khi giã gạo, mẹ mong con mơ cho mẹ hại gạo trắng ngần. Khi tỉa bắp trên nương, mẹ mong con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều. Khi chiến đấu, mẹ mong con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ trong ngày đất nước sạch bóng quận thù, Bắc-Nam thông nhất. Chính tình thương, đức hi sinh, lòng vị tha và nhân hậu cao cả của những người mẹ nghèo yêu nước ấy đã góp phần làm nên chiến thắng hôm nay.

Sau khi đất nước "sạch bóng quận thù, Bắc-Nam thống nhất" thì ông Nguyễn Khoa Điềm chuyển đổi công tác từ nhà làm thơ sang nhà làm chính trị. Em cu Tai cũng chuyển đổi chỗ ngủ, từ lưng mẹ sang lưng anh hay lưng chị :

Ru em vào giấc ngủ.

Anh đứng đó ê a ...

Ba mẹ đi làm xa.

Em ơi ngon giấc nhé.

Cô gọi anh lên bảng.

Anh đọc cả lớp nghe.

Cô vội đi tìm chiếu.

Nhưng chiếu ở đâu ra ?

nhatho3
Ảnh: soha
Ba mẹ nơi chốn xa.

Thương con nhiều biết mấy.

Chiều nay trời đừng lạnh...

Mẹ mang gạo về rồi ! ! !

Ô ! thằng em tỉnh giấc.

Bỗng nó nhoẻn miệng cười.

Anh ơi em hết ngủ.

Lưng anh ấm áp ghê ! ! !

Chân anh không cần dép

Áo anh xẻ cánh tay

Dây địu em mẹ xé...

...Áo rách mẹ hôm xưa.

Ngày mai em lớn lên

Lưng anh gù thêm chút.

Và rồi em có biết

Em lớn dậy có anh ?

nhatho4
Ảnh : tin.vn
Ngày xưa : "từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường". Nay trên từ lưng chị em ra thị trường để "làm kinh tế", ngay tại lề đường, theo bản tin của trang Một Thế Giới : "Những em bé H'mông dù lên 9, lên 10 hay chỉ mới lên 5, lên 6 cũng có thể kiếm ra tiền với vô vàn hình thức khác nhau, từ việc bán cành đào mỗi dịp Tết, bán những móc chìa khóa lưu niệm, bán dây trang trí đeo tay hay thậm chí chụp ảnh chung với khách du lịch rồi xin tiền..".
nhatho5
Ảnh : motthegioi.vn

"Điều đáng sợ nhất đối với người H.Mong là hiện tại, đã có nhiều cô gái H.Mong chấp nhận làm gái điếm để bán mình làm giàu. Người Kinh khi nói về các cô gái điếm H.Mong thường dùng hai chữ ‘gà mọi’ hoặc ‘chơi mọi’ để giễu cợt, khinh khi" - như lời của Nhóm Phóng Viên Tường Trình Từ Việt Nam, nghe được qua RFA, vào hôm 8 tháng 5 năm 2015 :

Cái ước mơ "mai sau con lớn làm người tự do" mà nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm dành (riêng) cho những người dân vùng xa, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng năm nào - tiếc thay - đã không trở thành hiện thực. Sự thực, rõ ràng, đã không thiếu ê chề mà còn thừa cay đắng.

Nỗi ê chề và đắng cay này, từ nay, được thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm gói gọn trong thơ -những câu thơ buồn thiu và yếu xìu hà :

Đất nước những năm thật buồn

Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt

Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành

Như kẻ khát nước qua sa mạc

Chung quanh yên ắng cả

Cái khí thế (Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông / Mẹ địu em đi để giành trận cuối) nay không còn nữa nên nhà thơ của chúng ta đã bị chê trách là "đổi giọng".

Lời "chê trách" này khiến tôi nhớ đến nhận xét của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn về một tác phẩm khác, viết lúc cuối đời, của một tác giả quen thuộc khác :

"Gọi là ‘Đi tìm cái Tôi đã mất’ cho sang. Ở đây tác giả không định đi tìm cái gì cả... Thế tại sao Nguyễn Khải lại viết ‘Đi tìm cái Tôi đã mất’ ? Theo tôi, trường hợp này cũng giống như Chế Lan Viên viết ‘Di cảo thơ’, và Tố Hữu tâm sự với Nhật Hoa Khanh. Thực chất cái việc các ông ‘cố ý làm nhòe khuôn mặt của mình’ như thế này là cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào mình đã sử dụng".

Tình hình, rõ ràng, đã khác và khác lắm nên nếu đúng là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có đang chuẩn bị "sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới" (theo tôi) cũng là chuyện tốt thôi. Lo xa vốn là một đức tính, không có gì đáng phải phàn nàn.

Tôi chỉ hơi "tâm tư" chút xíu về sự lựa chọn thời điểm xuất hiện trong thơ của ông Nguyễn Khoa Điềm : "Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ". Nhà thổ thì ai cũng có thể chường mặt vào bất cứ lúc nào, còn ở nơi được mệnh danh là cường quốc thơ mà chuyện ra/vào cũng (y) như vậy hay sao ?

Tưởng Năng Tiến (Sổ tay Thượng dân)
07/10/2015

(tuongnangtien's blog)

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Vũ Thư Hiên: Nguyễn Chí Thiện - một mẩu chuyện đời

(ghi lại vài dòng tặng các bạn yêu thơ Nguyễn Chí Thiện, để các bạn biết thêm một mẩu đời cay đắng của nhà thơ, nhân dịp nhớ ba năm ngày mất của ông)

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện
Hồi cuối thập niên 70, sau khi được thả ra khỏi nhà tù tôi phải làm đủ thứ việc để sống: dịch thuê, viết mướn, làm thợ cán cao su, đi theo Lê Sĩ Thiện làm tay phanh xe đạp bằng gang dẻo, làm bột nở cho các bà bán cháo quẩy… Và nhiều thứ khác nữa, kể không hết, tức là bất kỳ cái gì đến tay, hoặc nghĩ ra.

Tôi quen Lê Sĩ Thiện trong thời gian ở khoá 6 trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn, khi anh là giảng viên thông tin. Sau năm 1954, anh làm giám đốc nhà máy điện Lào Cai, rồi nghỉ hưu, từng làm đủ thứ và cũng thất bại đủ thứ. May, anh là con dao pha, phàm cái gì thuộc kỹ thuật ứng dụng anh đều biết không nhiều thì ít, làm việc gì cũng có sáng kiến. 

Nguyễn Chí Thiện ở tù cùng với tôi tại trại Phong Quang. Tôi ra tù trước anh vài tháng, hoặc nửa năm, tôi không nhớ chính xác, với điều kiện ký hợp đồng tạm tuyển công nhân bốc vác ở Công ty cung ứng vật liệu xây dựng Hà Sơn Bình (tức là Hà Đông, trong cái tỉnh mới gộp chung với Sơn Tây và Hoà Bình, theo lệnh của tổng bí thư Lê Duẩn). Tuy nhiên, tôi không ở nhà tập thể của công ty, mà vẫn về nhà mình ở Hà Nội cho đến khi được nhập hộ khẩu trở lại. Thiện về sống ở Hải Phòng, ở đấy anh còn bà chị. Thỉnh thoảng anh lại lên Hà Nội thăm tôi, Trình Hàng Vải, Vĩnh Đại Uý, Văn Thợ Mộc, Dũng Con..., là những bạn tù cũ. 

Được thả về, tuy không bị kiểm soát ngặt nghèo, nhưng không thể nào kiếm được việc gì để làm. Các cơ quan, xí nghiệp nhà nước lướt qua lý lịch mấy lần tù của anh là xua anh như xua tà. Anh sống vắt mũi bỏ miệng, lúc đói lúc no. Có lần Trình Hàng Vải mách kế cất hàng đũa xe đạp về bán ở Hải Phòng, anh nghe, đi được vài chuyến trót lọt, đã kiếm được chút đỉnh. Chẳng may, vào một ngày mùa đông, gặp một viên thuế vụ xét nét, thấy Thiện mặt gày quắt, mà áo bông lại to xù, hắn đè ra khám, tịch thu hết mọi bó đũa đeo quanh người. Chuyến ấy Thiện mất cả vốn lẫn lãi.

Thấy Lê Sĩ Thiện và tôi sản xuất bột nở, bán chạy, Thiện muốn lấy một ít về Phòng bán thử. Mặt hàng này tụi tôi làm đúng lúc, gặp thời – trước kia toàn nhập của Tàu, nay hai nước lủng củng không có hàng về nữa, cái quẩy lúc này chỉ to bằng ngón tay. Các bà bán cháo quẩy rất hoan nghênh mặt hàngcủa chúng tôi. Nhờ nó cái quẩy lại phồng to như cán búa.

Thiện muốn lấy về một ít bán thử, nhưng anh nói không có tiền trả hàng mẫu. 

Không hiểu vì lẽ gì, sau vài lần gặp Nguyễn Chí Thiện ở nhà tôi, Lê Sĩ Thiện dành cho người bạn cùng tên một tình cảm đặc biệt. Anh gãi đầu, rồi quyết:

- Cậu cứ lấy. Bao nhiêu cũng được. Bán rồi, trả sau.

Lê Sĩ Thiện là đàn anh của tôi. Anh mà đã quyết thì cấm cãi.

Vào thời gian ấy chẳng ai trong chúng tôi coi Thiện là nhà thơ, mặc dầu không ít thì nhiều chúng tôi đều thuộc những bài thơ nôm na anh cho chúng tôi nghe trong những buổi tối của đời tù đằng đẵng. Lê Sĩ Thiện không ở tù ngày nào, tất nhiên chẳng biết bài thơ nào của Nguyễn Chí Thiện. Anh cũng không yêu thơ. Anh yêu con người chất phác, đôn hậu của Nguyễn Chí Thiện.

- Câu này có một tâm hồn thật trong sáng – anh nói – Nhưng quá ít nói.

Thí nghiệm làm bột nở xong, chúng tôi chẳng có đồng vốn nào. Chạy khắp Hà Nội, gõ mọi cửa, mới vay được năm chục bạc, bằng lương kỹ sư một tháng. Được cái sự sản xuất này không đòi hỏi thiết bị lôi thôi, làm ra nhanh, thu hồi vốn cũng nhanh, chẳng mấy chốc chúng tôi đã rủng rỉnh đồng ra đồng vào. Nguyễn Chí Thiện nhờ buôn mặt hàng này mà trang trải được nợ nần, thậm chí còn dư chút đỉnh giúp họ hàng ở quê. Ấy là Thiện nói, tôi mới biết. 

Thiện rất sòng phẳng. Sau khi bán được nhiều rồi, đã tích được lãi làm vốn rồi, anh lấy hàng lần nào trả ngay lần ấy, không dây dưa. Một lần, anh dồn tất cả tiền có được để mua một lượng hàng lớn theo yêu cầu của người đặt hàng. Hoá ra ở miền Nam bấy giờ rất thiếu bột nở cho cao su để làm dép Thái Lan. Lái từ miền Nam ra, nghe nói Hải Phòng có thứ đó, mua thử mang về, thấy tuy chất còn kém nhưng có thể dùng được, liền đặt mua. Người khách quen của Thiện thấy có lợi, bảo Thiện lên ngay Hà Nội, mang về được bao nhiêu anh ta lấy bấy nhiêu. Thiện nghe theo, tính rằng sẽ lãi to, ai ngờ thất bại nặng. Tất cả số bột nở anh mang về đều bị phòng thuế tịch thu. 

Vụ ấy tôi hoàn toàn không biết. Chỉ thấy Thiện vắng mặt lâu, không thấy lên lấy hàng. 

Đùng một cái, Trình Hàng Vải đến báo: “Thiện bị bắt lại rồi!” Anh bàn với tôi góp tiền đưa cho chị của Thiện đi tiếp tế. Chúng tôi, những người tù số lẻ cũ, không thể và không nên thò mặt ra trong việc này. Thì ra thời gian Thiện vắng bóng là lúc anh âm thầm chép lại toàn bộ thơ làm trong tù, để rồi đột nhập đại sứ quán Anh, nhờ họ chuyển ra nước ngoài. Tập thơ đầu tiên của Thiện có tữa “Hoa Địa Ngục”. Chi tiết vụ này mọi người đều đã biết. 

Mãi về sau tôi mới được nghe kể chuyện gì đã xảy ra trong chuyến đi lấy bột nở mang về Hải Phòng lần chót của Thiện.

Người bạn của Thiện, đại uý Bảo chính đoàn cũ, nay đạp xích-lô, một buổi tối vắng khách mới rẽ vào thăm Thiện. Đẩy cánh cửa không bao giờ khoá vào nhà, anh thấy nhà tối om. Bật lửa lên soi thì thấy Thiện nằm co trên giường. Anh đang ngủ. Sờ soạng tìm công tắc bật điện, vẫn tối om. “Điện đóm sao thế này?”, anh hỏi. Thiện lúc ấy mới ngỏng đầu lên, đáp: “Bán rồi!”. “Bán rồi là thế nào?”, anh hỏi tiếp. “Bán rồi là bán rồi, chứ còn là thế nào”. 

Thì ra sau vụ bị bọn thuế vụ tịch thu tất cả số bột nở trên tàu, Thiện chẳng còn đồng nào trong túi. Về được đến nhà, bụng đói, cật rét, soát lại chẳng còn gì đáng giá, ngoài cái bóng điện 15 watts. Thiện bèn tháo cái bóng đèn, mang đi đổi được một bơ gạo (bơ, tức cái vỏ hộp sữa đặc, một thời được dân chúng coi là đơn vị đo lường ờ miền Bắc VN) về nấu cháo. Ăn cháo xong thì đắp chăn ngủ.
Anh đại uý đạp xích lô bảo Thiện:

- Cậu có khai với chúng nó là bột nở không đấy?

- Không.

- Cậu khai sao?

- Bảo tôi không biết, người ta thuê mang thì tôi mang.

Anh đại uý thở phào:

- Thế thì có cơ cứu vãn. Chúng nó mà biết là bột nở thì xong phim. Chúng nó sẽ đem bán để chia nhau. Nghe đây, tớ có quen bọn ấy, ta có thể xin lại được.

- Nhất rồi. Có phải hối lộ gì không? Tớ không còn xu nào dính túi đấy nhá.

- Không phải hối lộ. Nhưng phải đãi chúng nó một chầu.

- Tớ nói rồi – không còn xu nào đâu.

- Việc ấy tớ lo. Sau cậu trả lại cũng không muộn. 

Hôm sau anh bạn đại uý tổ chức một bữa chén thết bọn thuế vụ. Chúng thu bất cứ thứ gì trên tàu mà không có hoá đơn chứng từ kèm theo, chẳng cần biết đó là hàng gì. Thiện được trả lại toàn bộ hàng bị thu vì là bạn của bạn, vì bạn đã có lời xin lại.

Bữa ấy Thiện say khướt. Say đến nỗi không biết làm sao mình về được tới nhà. Anh không bao giờ uống rượu. Đơn giản vì phần lớn thời gian của đời anh là ở trong tù, nơi không thể có rượu uống, trừ những người tù vì lẽ này hay lẽ khác được đưa vào một toán (hay đội) đặc biệt gọi là tự giác. Những người này cũng chỉ thỉnh thoảng mới được một lần say sưa nhờ đổi chác với dân ở các làng bản gần trại. 

Tôi hỏi Thiện chuyện này khi chúng tôi sống cùng nhau trong một căn hộ tại Strasbourg, một thành phố miền Bắc nước Pháp. 

- Đó là lần đầu tiên tôi uống rượu đấy, ông ạ - Thiện nói - Trước đó cũng có lần nhấp một tí, trong một đám giỗ, chẳng thấy ngon lành gì. Cay xè. 

- Say thế làm sao về? – tôi hỏi.

- Ông này buồn cười, cái anh đại uý bạn tôi chở tôi về chứ. Anh ta có cả một cái xích lô mà.

Vũ Thư Hiên

(FB Vũ Thư Hiên)

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

Những bài hát về mùa thu Hà Nội

H-vnexpress

                                      Mùa thu Hà Nội hiện lên với nét thâm trầm, cổ kính
                                                   Photo courtesy of vnexpress

“Tháng tám mùa thu lá rơi vàng chưa nhỉ?

Từ độ người đi thương nhớ âm thầm

Có phải em là mùa thu Hà Nội

Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm…” (Có phải em là mùa thu Hà Nội)

Có phải em là mùa thu Hà Nội là bài hát được nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ nhạc từ bài thơ của nhà thơ Tô Như Châu. Một điều rất đặc biệt, đó là cả nhà thơ và nhạc sĩ của tác phẩm này đều chưa từng đặt chân đến Hà Nội khi ca khúc này ra đời. Có lẽ vì vậy mà dù biết rằng tháng tám là sang thu, nhưng cả hai người nghệ sĩ đều tự hỏi lá vàng đã có rơi chưa.

Thật ngẫu nhiên khi mà hai nơi cách nhau đến cả một đại dương lại có cùng chung khoảnh khắc sang mùa. Nơi miền Đông Bắc nước Mỹ xa xôi đang vào độ chớm thu. Hà Nội thì đang ở những ngày cuối cùng của mùa thu. Nếu hỏi một ai đó rằng điều gì đặc biệt nhất của mùa thu Hà Nội? Thì cho dù đã xa mấy mươi năm, họ vẫn có thể nói ngay rằng:

“Cái đẹp nhất của mùa thu Hà Nội là cây cối, nó ở giai đoạn chuyển mùa, có những lá vàng. Thay vì xứ khác thì có mùa cây lá đỏ nhưng ở đây thì lá vàng, nhưng nó không trơ trụi như Hàn Quốc hay những xứ lạnh khác.”

Mùa thu Hà Nội mềm như ngọn cỏ ướt trong buổi sớm mai, thêm với cái lạnh se se dễ làm cho người ta co tròn trong những nỗi niềm riêng. Mỗi một người sẽ cảm nhận, yêu và nói về mùa thu Hà Nội bằng ngôn ngữ và cảm xúc của riêng mình. Khi đó, thì ai cũng bỗng dưng trở thành người nghệ sĩ.

Ai đã từng có kỷ niệm với những cơn gió heo may, với tiếng lá vàng khô rơi khe khẽ, với mùa hoa sữa nồng nàn hay mùi hương ngọc lan thoang thoảng trong đêm, thì sẽ biết mùa thu Hà Nội đẹp nhất là những ngày cuối cùng trước khi chuyển sang đông. Nhạc sĩ Phú Quang, người chọn mùa thu Hà Nội làm người tình cho các ca khúc của mình nói rằng ông yêu Hà Nội vì như thế, và ông luôn quay về Hà Nội vào những ngày cuối thu.

Nhất là những ngày cuối thu đầu đông. Ở Hà Nội chỉ có độ 20 ngày trước khi vào mùa đông thì thu Hà Nội. Nước Việt Nam không đâu có mùa thu đẹp như thế.  
- Nhạc sĩ Phú Quang

“Tại vì chỉ là ở Hà Nội thì mùa thu là mùa đẹp nhất trong năm. Nhất là những ngày cuối thu đầu đông. Ở Hà Nội chỉ có độ 20 ngày trước khi vào mùa đông thì thu Hà Nội. Nước Việt Nam không đâu có mùa thu đẹp như thế.”

“Mùa thu ở Hà Nội đẹp nhất là những ngày cuối thu đầu đông. Một người bạn của tôi là anh Hoạch có một câu rất hay, ‘Thu rất thật thu là khi chớm đông sang.’ Ở Hà Nội là như thế, lúc đó là mùa thu,là thật thu nhất, là khi chớm đông sang.”


“Thu rất thật thu là khi chớm đông sang

Em rất thật em là lúc em hoang mang lựa chọn

Anh rất thật anh là lúc anh biết ra đi nhẹ hõm

Để bớt cho đời một chút gió lao xao…” (Hà Nội và em khi thu chớm đông sang)

Không phải chỉ riêng nhạc sĩ Phú Quang là người Hà Nội mới yêu mùa thu và dành hết không gian mùa thu cho các sáng tác của mình. Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng chia một phần tình yêu của mình cho những ngày cuối thu Hà Nội. Ông băn khoăn không biết vì nỗi nhớ gió thu cuối mùa hay vì nỗi nhớ một ai đó đã níu chân ông

“Bởi vì mùa thu tôi ở lại

Hà Nội mùa thu Hà Nội thu

Hà Nội mùa thu tràn nỗi nhớ

Không bởi vì em hay bởi em…” (Đoản khúc thu Hà Nội)

Mùa thu Hà Nội đến và đi rất nhanh, nhưng cũng đủ để níu chân người đi xa, làm vương vấn người ở lại.

Cái đẹp nhất của mùa thu Hà Nội là cây cối, nó ở giai đoạn chuyển mùa, có những lá vàng. Thay vì xứ khác thì có mùa cây lá đỏ nhưng ở đây thì lá vàng, nhưng nó không trơ trụi như Hàn Quốc hay những xứ lạnh khác.
Chỉ có Hà Nội mới có một mùa thu nao lòng đến thế.

“Ở Việt Nam chỉ có Hà Nội mới có mùa thu thôi. Sài gòn chỉ có mùa nắng và mùa mưa. Hà Nội có đủ bốn mùa. Đó là lý do vì sao người Sài Gòn ít ai biết về bốn mùa, chỉ mùa nắng và mùa mưa.”

Sài Gòn hai mùa mưa nắng. Có thể cũng vì vậy mà những bài hát về mùa thu làm mềm lòng người Hà Nội bao nhiêu thì cũng gây vương vấn cho người Sài Gòn bấy nhiêu.

“Cảm giác thì thứ nhất nếu là một người Sài Gòn thì mình sẽ tò mò. Nếu mình chưa đi Hà Nội thì mình sẽ tò mò không biết nó có đẹp không, có giống như vậy không mà sao người ta viết hay quá. Còn khi mà mình có sự tò mò thì mình sẽ tìm hiểu, thì mình thấy mùa thu ở Hà Nội thật là đẹp.”

“Khi những cơn mưa trắng mặt hồ

Ta chìm trong tình em mùa thu dịu dàng

Đêm dài dần trôi cùng ta khao khát

Nghe mưa xa theo từng bước chân qua…” (Mùa thu và em)

Mùa thu Hà Nội đẹp nhưng buồn, cho nên chính Phú Quang, người đã chìm trong tình em dịu dàng khi cơn mưa trắng mặt hồ mùa thu cũng đôi khi tự hỏi những chiếc lá vàng úa cuối mùa ấy có phải là do mùa thu?

“…thôi đừng hát ra…thôi đừng ray rứt

Lá trút rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu…” (Đâu phải bởi mùa thu)

“Tôi muốn nói với mọi người rằng có những cuộc chia ly, thì có thể là lỗi là của anh hoặc của em, hoặc của hai người, nhưng còn có cuộc chia ly không ai có lỗi cả. đó là hoàn cảnh. Cũng như mùa thu thì lá nó thường rơi xuống, nhưng cũng có khi lá trúc rơi rất nhiều nhưng chẳng phải bởi mùa thu, vì mùa khác cũng có lúc lá rơi rất nhiều.”

Xuân, Hạ, Thu, Đông, mùa nào cũng có cái đẹp riêng của đất trời. Nhưng có lẽ chỉ có mùa thu, và mùa thu Hà Nội mới có thể làm cho cả người đi xa và người ở lại gửi về đó một chút tình riêng của mình.

Cát Linh

(RFA)

Beatles và giai thoại nhạc phẩm And I Love Her

Beatles và giai thoại nhạc phẩm And I Love Her
 Hàng người tại Luân Đôn chờ mua các albums của ban nhạc Beatles.© Reuters/Kieran Doherty

 Trong số các ca khúc rất nổi tiếng của ban nhạc The Beatles, bản nhạc And I Love Her (Và tôi yêu nàng) được xem như là tình khúc quan trọng đầu tiên của Paul McCartney, cho dù theo quyết định chung, tất cả các sáng tác của nhóm Tứ Quái đều được ký tên của hai thành viên Lennon và McCartney. Đằng sau bài hát này, lại có nhiều giai thoại lý thú, ly kỳ.

Nhạc phẩm And I Love Her (Và tôi yêu nàng) được nhóm Beatles ghi âm tháng 7 năm 1964. Theo lời John Lennon, thì đây là phần đóng góp hàng đầu của Paul McCartney cho tập nhạc thứ ba của nhóm (mang tựa đề A Hard Day’s Night). Lúc đầu, cả nhóm không dự tính đưa dạo khúc này vào album vì bản nhạc có một sắc thái trầm buồn, ca từ hơi ủy mị khác hẳn với những bản nhạc rock mà nhóm này thường thâu.

Trong quyển sách mang tựa đề Many Years From Now (tạm dịch là Nhiều năm về trước), nhà phê bình Barry Miles cho biết là Paul McCartney viết nhạc phẩm And I Love Her (Và tôi yêu nàng) cho người yêu của anh vào thời đó là cô Jane Archer. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả người Anh, Jane Archer nổi tiếng là một diễn viên điện ảnh và truyền hình, thân phụ là bác sĩ còn thân mẫu là bà Margaret Archer, giáo sư dương cầm tại trường đào tạo âm nhạc và diễn xuất Guildhall (Guildhall School of Music and Drama). Mẹ của Jane sẽ dạy thêm nhạc lý cho Paul McCartney, điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến lối sáng tác sau này của anh. Khi viết tình khúc sâu lắng nhẹ nhàng, McCartney thường chọn điệu thứ trầm buồn tơ vương trong khi Lennon lại tươi tắn yêu đời hơn khi thiên về điệu trưởng.

Jane Archer và Paul McCartney quen nhau trong vòng 8 năm. Hai người sống chung một thời gian với gia đình của cô gái. Phải nói là bố mẹ của Jane thuộc vào hàng trí thức có tư tưởng tự do, phóng khoáng. Vì vào đầu những năm 1960, ít có bậc phụ huynh nào để cho con gái của mình rủ bạn trai về nhà sống chung, và nhất là Jane lúc đó chỉ mới có 17 tuổi mà thôi. Giữa đôi uyên ương Jane và Paul là một mối tình đầu đời say đắm, tha thiết. Hai người lúc nào cũng quấn quýt bên nhau, không chịu xa rời dù chỉ là phút giây. Đối với Paul McCartney, Jane Archer tựa như là một nàng thơ, một nguồn cảm hứng dồi dào vì anh đã viết cho nàng khá nhiều ca khúc trong đó có bài I want to hold your hand (Muốn cầm tay em) và Can’t buy me Love (Tình không mua được).

Vào thời ấy, ban nhạc The Beatles đang ở trong giai đoạn chinh phục thị trường quốc tế, sau khi nổi danh tại Anh Quốc. Nhóm này bị sự cạnh tranh của các ban nhạc khác cùng thời là Rolling Stones và The Byrds. Tuy hát nhạc rock, nhưng về phong cách, nhóm Tứ Quái The Beatles muốn nhắm vào cùng lúc vào nhiều đối tượng khác nhau. Có lẽ cũng vì vậy mà ban nhạc này ngoài việc ghi âm các ca khúc thuần chất nhạc rock (chẳng hạn như Long Tall Sally hay Matchbox), còn đưa thêm nhiều ca khúc phổ thông hơn (Besame Mucho) vào các buổi trình diễn của họ. Do đó mới có cuộc tranh luận xung quanh Rolling Stones và The Beatles. Giới yêu chuộng nhóm Rolling Stones cho rằng nhạc rock cuả Beatles thường chỉ dành cho con gái.

Ngay cả trong nhóm Beatles, các thành viên khác đôi khi cũng trêu ghẹo, châm chọc tính chất lãng mạn và tha thiết quá đỗi trong sáng tác của Paul McCartney. Họ cho rằng vì Paul đang si tình nên đâm ra khờ khạo. Mà qủa thật là khi nhìn vào ca từ của bài And I Love Her (Và tôi yêu nàng), có thể nói là nội dung bài hát hết sức mộc mạc, lời lẽ có chỗ rất ngây ngô. Nhưng đổi lại bài hát này là ca khúc đầu tiên giúp cho Beatles chinh phục Hoa Kỳ, mở đường cho ban nhạc giành ngôi vị quán quân trên thị trường quốc tế, và tạo ra phong trào Beatlemania.

Trong quyển sách mang tựa đề All We Are Saying, nhà báo David Sheff dẫn lời John Lennon cho biết : nếu không có nhạc phẩm And I Love Her (Và tôi yêu nàng), thì ban nhạc Beatles khó thể nào mà thực hiện được ước mơ vươn ra biển lớn. John Lennon gọi bài And I Love Her (Và tôi yêu nàng) là tiền bản của nhạc phẩm Yesterday (Ngày hôm qua), hàm ý rằng nhờ vào sự thành công của bài hát này mà Paul McCartney tự tin hơn khi sáng tác và ghi âm một mình (sau này, đó cũng là một trong những mầm mống gây chia rẻ, dẫn đến sự tan rả của nhóm).

Bản nhạc And I Love Her (Và tôi yêu nàng) đặt nền tảng sáng tác cho Paul McCartney, sở trường của anh là soạn thêm tình khúc bên cạnh các bản nhạc rock của nhóm. Bài hát này đã đi nửa vòng trái đất, được chuyển dịch sang 12 thứ tiếng. Nhưng quan trọng hơn nữa là tính chất xuyên thể loại (crossover) của ca khúc này. Bản nhạc được chuyển thể, phá cách theo các loại nhạc khác mà vẫn không mất đi cái hồn cái cốt của nó.

Từ những năm 1970 trở đi, hàng lọat phiên bản của bài I Love Her (Và tôi yêu nàng) lần lượt ra đời. Danh ca Sarah Vaughan và Dian Krall hát bài này theo điệu jazz, các ca sĩ của hãng Tamla Motown như Bobby Woomack, Smokey Robinson của nhóm Miracles hay là ban nhạc The Temptations đều chuyển thể theo điệu soul. Bất ngờ hơn nữa là trong tiếng Tây Ban Nha, ca khúc Và tôi yêu nàng trở thành một vũ điệu salsa, kinh điển đến nổi người La tinh không tin rằng nguyên tác bài hát lại là một ca khúc của nhóm The Beatles.

Trong nguyên bản, bài được sáng tác ban đầu dưới tựa Vì tôi yêu nàng (‘Cause I Love Her) sau đó mới được đổi thành Và tôi yêu nàng. Đối với các nhà phê bình, sửa đổi như vậy cũng là đúng bởi lẽ tình yêu mà có thể giải thích bằng lý trí thì không còn thật sự là tình yêu. Bởi vì trái tim có những lý do mà trí óc không thể nào hiểu nổi. Đâu đó, chữ Và quan trọng hơn là chữ Vì, nó thể hiện cho sự hiển nhiên, nói theo người Pháp là ngay cả người mù cũng có thể thấy được điều đó.

Trên đà thành công của nhạc phẩm Và tôi yêu nàng, Paul McCartney bắt tay vào việc sáng tác ca khúc để đời Yesterday. Cho dù ca khúc được ký với nhiều tên tác giả, nhưng Yesterday thật ra là một sáng tác riêng của Paul McCartney. Anh ghi âm bài này với một dàn nhạc tứ tấu, chứ không hề có sự tham gia của ba thành viên còn lại. Yesterday sau đó lọt vào danh sách 100 ca khúc hay nhất mọi thời đại, được ghi vào Sách kỷ lục Guinness với hơn 3 ngàn phiên bản đủ loại, tính cho đến cuối thế kỷ 20. Nhưng đó đã là một câu chuyện khác. (phải không các bạn).

Tuấn Thảo

(RFI)

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Ăn và đọc – Tùy bút của nhà văn Võ Phiến

Thỉnh thoảng chúng ta gặp ở tiệm một vài người Mỹ ngồi ăn phở. Có người cầm đũa khá thạo. Trong số một đôi triệu người Mỹ luân phiên đến xứ này rồi ra đi, những kẻ tò mò tiến xa vào nếp sống Việt Nam tới mức ấy chắc không lấy gì làm nhiều. Các kẻ ấy trở về nước, giữa dăm ba câu chuyện ly kỳ về đất Việt xa xôi kể với bạn bè, có thể múa biểu diễn cặp đũa, có thể nói đến cái mùi lạ lùng của rau quế vừa ăn vừa ngắt từng lá bỏ vào tô phở, đến cái vị ngộ nghĩnh của những tép củ hành nhúng trong nước dùng vớt ra với chỏm lá xanh xanh v.v…

Như thế là vượt xa quá những khuôn sáo, những chỗ gặp gỡ thông thường của các du khách rồi. Du khách Tây phương nói về món ăn Việt, bất quá gặp nhau ở món nước mắm, rồi thôi.

Vậy những người Mỹ hiếm hoi nọ đáng khen, về sự hiểu biết rộng rãi.
Tuy nhiên từ chỗ biết ăn phở cho đến cái trình độ am hiểu các đặc điểm, các sở trường sở đoản của từng thứ phở bò, phở gà, phở nước, phở áp chảo, phở tái, phở chín, phở nạm, phở gầu, phở sụn v.v…, còn nhiều cách biệt. Rồi từ chỗ thạo phở cho đến cái tâm tình về phở như của Nguyễn Tuân, lại còn một tầng cách biệt nữa. “Nắm vững” một món ăn — chỉ một món thôi — đâu phải dễ.

Thật vậy, không cứ là khách ngoại quốc, ngay đến người Việt Nam không phải ai cũng bưng tô phở mà ăn như nhau, với những cảm tưởng giống nhau. Một nông dân ở thôn ấp nào đó ngoài Phú Yên, Quảng Ngãi v.v… ăn phở Bắc cũng như ăn hủ tiếu Mỹ Tho, cũng như ăn mì Tàu, nghĩa là hững hờ. Còn người nông dân ở Cà Mau, Rạch Giá v.v… chẳng hạn có thể có sự thiên vị bất lợi cho phở. Người Việt miền Nam chỉ hoan hỉ chấp nhận món phở sau một vài canh cải, tức sau khi đã trút vào tô phở được non nửa dĩa giá sống.

Phở là món ăn phổ biến hết sức rộng rãi từ Bắc chí Nam mà còn thế, huống hồ là những món ăn khác. Mỗi món ăn thường chỉ được sủng ái ở một vùng, hoặc rộng hoặc hẹp. Xơi nó thì ai cũng xơi được, nhưng gọi là tri kỷ, biết đến tận cùng cái ngon của nó, chỉ có thể là người một địa phương. Chả cá, bún thang, là những thứ quí của đất Bắc; từ ngày vào Nam dường như nó lạc lõng, ít ai thấu triệt ý vị của nó. Bún bò, bánh lá, ngày nay lưu lạc khắp nơi; nhưng tôi tưởng tượng ở một góc chợ Trương Minh Giảng, ở một hẻm Bàn Cờ, thỉnh thoảng miếng bánh lá mỏng mà gặp lại một cái lưỡi Huế có phảng phất mùi thuốc Cẩm Lệ nó sẽ mừng rơn. Bỏ một miếng bánh, húp một muỗng bún vào mồm, có phải ai cũng thưởng thức như ai đâu. Giữa món ăn với người ăn phải có sự tương đắc. Khi đã tương đắc, đã cảm thông sâu xa với nhau, người Nam ăn ba khía, ô môi, người Huế ăn cơm hến, người Bình Định ăn mắm cua chua chan bún thấy thấm thía, nồng nàn. Cái mùi vị nồng nàn ấy, kẻ khác không chịu được.

Mỗi món ăn chỉ có một số người thực sự hiểu nó, số người ấy là của một địa phương. Vậy món ăn có liên hệ đến khí hậu địa phương chăng?
Ở xứ lạnh dễ thấy cái ngon trong trong chất mỡ béo, ở xứ nóng dễ rành về các thứ rau, canh. Người Huế ăn cay, một phần hình như cũng vì khí trời ẩm ướt của những mùa mưa dai dẳng. Người miền Nam thích giá sống vì nó giải nhiệt?

Khi đã chuyên ăn một món nào đó, người ta càng ngày càng thành thạo trong việc chọn lựa, sử dụng, người ta tìm thấy ở nó những đặc điểm mà kẻ khác không để ý đến; do đó người ta vượt bỏ, tách rời khỏi quần chúng. Về quả ớt chẳng hạn, chắc chắn đồng bào ở các nơi ít ai theo kịp người Huế trong cách thưởng thức: kẻ yêu ớt không chỉ yêu nó vì cái vị cay, mà còn vì mùi hăng nồng, vì cái tiếng kêu giòn phát ra dưới răng khi cắn nó, lại yêu vì trông nó sướng mắt, cầm nó sướng tay trong giây phút mân mê trước khi đưa lên mồm… Người Huế ngoài cách ăn ớt bột, ớt tương, ớt xắt, ớt giã v.v…, còn thích lối ăn cầm cả trái ớt tươi rắn chắc mà cắn kêu đánh bụp trong miệng thật ngon lành; để cắn, họ chọn ớt xanh.

Nhưng một chuyện khí hậu nhất định không đủ. Cái ăn còn tùy thuộc ở sản phẩm sẵn có của địa phương, ở lịch sử v.v… Ở lịch sử? Nghe thì to chuyện, nhưng chính tại lịch sử mà người Bình Định quen ăn bánh tráng. Thứ bánh tráng Bình Định tìm mua ở Sài Gòn rất khó, vì không thấy bán ở các chợ, chỉ gặp tại một vài nơi ngoại ô hẻo lánh; người Bình Định có những bữa ăn dùng toàn bánh tráng thay cơm, cho nên bánh tráng ở đây có địa vị quan trọng hơn ở các địa phương khác. Đi xa, người Bình Định nhớ bánh tráng như người Việt sang Âu châu nhớ cơm, nhớ bánh cuốn. Như thế có phải vì bánh tráng từng là lương khô dùng trong quân đội Nguyễn Huệ, xuất phát từ Bình Định?

Món ăn còn quan hệ với lịch sử theo cách khác. Thiết nghĩ người Việt Nam đời Trần dùng món thịt cầy không đối diện với dĩa rau thơm giống dĩa rau thơm chúng ta có trước mặt ngày nay. Không phải đột nhiên tự lúc đầu lá mơ đã đi với thịt cầy, rau om đã tìm đến thịt cầy. Tôi chắc thế. Các đấng tổ tiên phải có một thời kỳ mò mẫm, thí nghiệm; có thể các ngài đã thử dùng lá chanh và rau răm ăn với thịt heo chẳng hạn, dùng rau om với thịt gà, dùng lá lốt với thịt cầy chẳng hạn v.v… Cả tập thể tham gia vào cuộc tuyển trạch, mọi người đều có quyền tự do khen chê. Những cái không thích hợp dần dà bị đào thải, các lầm lẫn được sửa chữa, các thiếu sót được bổ túc. Cứ thế, từ thế kỷ nọ sang thế kỷ kia, hết thế hệ này đến thế hệ khác kế tiếp nhau canh tân, rốt cuộc mới đến chỗ toàn mỹ.

Nhưng đã toàn mỹ chưa? Chưa chắc. Hôm nay ta nhắm nháp chả cá, lấy làm đắc ý và hãnh diện về nghệ thuật nấu nướng của dân tộc; tam bách dư niên hậu, có thể cách ấy sẽ bị xem là quá thô sơ. Trước đây năm bảy thế hệ, trên mâm chả cá có thể thiếu thìa là, có thể thiếu chén đậu phụng rang, mắm tôm có thể thiếu giọt cà cuống… Sau đây năm bảy thế hệ người Việt nữa, ai ngờ được sẽ xảy ra thêm những phát kiến gì mới?

Một món ăn, nó cần có thời gian để tự cải tiến; mỗi địa phương cần có thời gian để hoàn thiện các món ăn của mình. Lâm Ngữ Đường chê bai món ăn Tây phương nghèo nàn: nó nghèo nàn như vậy phải chăng vì lịch sử văn minh của Tây phương ngắn ngủi hơn của Trung Hoa? Lịch sử dần dà làm phát triển văn chương, khoa học; nó cũng làm phát triển các món ăn nữa. Nhưng trong khi các kế hoạch gia hy vọng đốt giai đoạn để sản xuất gấp bom nguyên tử, không ai đốt được giai đoạn để cải thiện món phó-mát, để sản xuất gấp một thứ phó-mát mới ngon hơn các thứ cũ. Nghệ thuật khoan thai đủng đỉnh hơn khoa học; nó không chịu sự thúc bách giục giã. Phải chờ đợi. Phải có thời gian cho nó.

Sự hình thành của một món ăn cũng như của một câu ca dao, của một điệu dân ca. Ấy là những công trình tập thể, trong đó mỗi cá nhân đều có sự đóng góp. Thật dân chủ, bình đẳng: mỗi người một lá phiếu. Lá phiếu ở đây là cái lưỡi. Và sự chọn lựa của mỗi người không có lý do gì để thiếu chân thành. Mỗi người chọn lựa bằng cả các tạng phủ của mình, bằng tất cả các đặc điểm thể chất của mình, để cùng nhau đi đến cái kết quả chung trong đó mỗi người của địa phương đều có trách nhiệm: người Huế tìm ra cái hay ho của ruốc, người Nam thấm thía ý vị của nước cốt dừa v.v… Tại sao vậy? Người ta không tìm được câu trả lời dễ dàng. Sự chọn lựa ấy, căn nguyên của nó bắt nguồn từ những cội rễ nào thâm thiết sâu xa trong kiến trúc sinh lý của con người mỗi nơi. Người của mỗi địa phương có một cá tính riêng về tâm lý: có nơi hào hùng, có nơi keo kiệt, có nơi ưu du nhàn dật… Mỗi địa phương cũng có thể có một cá tính sinh lý chăng? Sự dị biệt trong thứ cá tính ấy hẳn là mong manh, tế nhị, tinh vi lắm; khó lòng mà biện biệt phân minh. Tuy nhiên rõ ràng nó đã nêu ra những đòi hỏi khác nhau, những sở thích khác nhau.

Như vậy người ta không chỉ ăn bằng mồm. Con người ăn là ăn bằng cả gốc gác quê hương, bằng phong tục tập quán của mình, bằng cái khí chất riêng biệt của cơ thể mình, cũng như bằng lịch sử, bằng trình độ văn hóa của xứ sở mình. Trong một dĩa đồ ăn, có phản ảnh của khí hậu một miền, của những đặc điểm sinh lý con người địa phương… Và giả sử nói có cả phản ảnh của một phần nào những đặc điểm tâm hồn trong đó có quá chăng? Cái vị ngọt rất thanh của các thứ chè ở Huế gợi nhớ đến nét dịu dàng trong giọng nói và trong tính tình người Huế. Nhất là nếu so sánh thứ nước chấm pha chế rất dịu ở Thừa Thiên với thứ nước mắm thường dùng giữa khoảng đèo Hải Vân cho đến đèo Đại Lãnh, người ta không khỏi nghĩ đến cái tâm lý xẳng xớm bộc trực của người dân Việt từ Quảng Nam Quảng Ngãi trở vào…

Từ chút nước mắm chấm rau chấm thịt mà nói đến tâm hồn con người, e đã quá xa. Tưởng không nên tiếp tục chuyện ăn uống nữa, nếu không muốn lạc vào chỗ viển vông lố bịch.

Nhưng văn chương nghệ thuật lại cũng không khác cái ăn là mấy. Ca dao, dân ca là sản phẩm của một địa phương; và thưởng thức đến tận cùng cái hay ho của nó hình như cũng chỉ có thể là người của địa phương. Nghe một điệu ru à ơi trong đêm khuya chúng ta rung cảm thấm thía đến đáy lòng, tưởng trên thế giới khó có một giống dân nào nghe điệu hát ấy mà cùng có được cái rung động của chúng ta. Họ có nghe chăng bất quá là nghe bằng lỗ tai thẩm âm tinh tế; còn chúng ta nghe bằng cả quãng đời thơ ấu của riêng mình, bằng truyền thống của dân tộc mà mỗi chúng ta thừa tiếp nơi mình…

Hiểu một câu ca dao, một bài thơ cũng vậy. Ngôn ngữ dùng để làm ra thơ văn không thể là cái ngôn ngữ chỉ có nghĩa mà thôi. Tiếng Espéranto không có hy vọng dùng vào thi ca. Nó chỉ có nghĩa, nó không có hồn.

Hồn của ngôn ngữ là cái quái gì?
Mỗi tiếng nói: non sông, ruột thịt, xanh, vàng v.v…, ngoài cái nghĩa nó ra, còn có khả năng khơi động nơi mỗi chúng ta một rung cảm nào đó. Liên quan giữa rung cảm nọ với ý nghĩa của mỗi tiếng nói thật xa xôi mơ hồ. Bởi vì cùng một tiếng có một nghĩa nhất định, lại có thể gợi lên những xúc động khác nhau tùy mỗi người, mỗi dân tộc. Cái nội dung tình cảm mơ hồ nọ do cuộc sống của tập thể gửi vào ngôn ngữ. Có dự vào cuộc sống của tập thể nào mới cảm thông với cái hồn của ngôn ngữ nấy. Chủ trương thơ thuần túy chính căn cứ vào sức tác động bí ẩn của ngôn ngữ, chứ không phải vào ý nghĩa minh bạch của nó; bởi vậy cái hay mà thơ thuần túy nhằm đạt tới là ở ngoài phạm vi ý nghĩa. Và như thế một kẻ trí thức ngoại quốc, sống ngoài cộng đồng dân tộc Pháp, một kẻ mà những buồn vui sướng khổ trong đời không liên hệ gì đến tiếng nói Pháp, mà hàng ngày những tai nghe mắt thấy cùng xúc cảm trong lòng không dính líu gì đến tiếng nói Pháp…, một kẻ như thế có thể thưởng thức được gì ở thơ Valéry, Mallarmé? có thể thưởng thức sao được như một người Pháp?

Cũng như ăn không chỉ bằng mồm, người đọc không chỉ đọc bằng khối óc suy xét. Người ta thưởng thức cái đẹp của một văn phẩm nước nào bằng cả cái kinh nghiệm chung chạ cùng tiếng nói nước ấy, bằng cả sự gần gũi với nếp sống đã từng phát sinh và không ngớt bồi đắp cái tiếng nói ấy… Nếp sinh hoạt nọ đã thổi sinh khí vào ngôn ngữ kia, làm sao hiểu hết một công trình mỹ thuật xây dựng trên ngôn ngữ kia mà không cần biết đến nếp sinh hoạt nọ?

Nguyên một tiếng nói để sử dụng đã thế, những công trình xây dựng bằng tiếng nói ấy lại còn mang thêm nhiều nét cá tính của từng xứ sở, từng dân tộc. Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner là một tuyệt phẩm của Mỹ. Con người Việt Nam chúng ta biết tìm ở chỗ xó xỉnh nào trong tâm hồn mình cho ra cái “cuồng nộ” tương tự? Sách đọc mà thực tình thấy khoái là khi nào người đọc cảm thấy giữa mình với tác giả có chỗ đồng thanh đồng khí. Đàng này cái “cuồng nộ” nọ chỉ làm ta kinh ngạc.

Người Mỹ, qua các nhân vật của Steinbeck, của Hemingway, của Caldwell v.v…, thấy quả thấp thoáng họ có cái bạo liệt dữ tợn riêng. Những anh chàng mê say vuốt lông chuột, ham đấm đá, đấu bò rừng, những ông cha trông thấy đứa con trai độc nhất vừa tự tử chết lại tiến đến bắn thêm cho nó một phát vào đầu, trông thấy thằng rể da đỏ liền quạt cho nó một loạt đạn dưới chân v.v…, những nhân vật ấy đã mang sẵn ít nhiều cuồng nộ nơi mình; tâm hồn của họ tương ứng với nhau. Gặp nhau họ thích thú, họ khoái trá. Còn chúng ta, không phải là cá mà đòi vui cái vui của cá sao được! Trái lại, một vài tác giả Việt Nam như Nguyễn Tuân chẳng hạn làm sao được thưởng thức ở một dân tộc hiếu động? Nguyễn Tuân tiền chiến có cái ề à dềnh dang, chuyển ra ngoại ngữ có lẽ là vô duyên mà đối với chúng ta thì là hấp dẫn. Bút pháp ấy biểu hiện một phong thái đặc biệt, quen thuộc ở một lớp người trong xã hội ta, nhắc nhở đến nếp sống của dân tộc ta trong một thời đã qua; ta thấy nó đẹp, người ngoài có thể chỉ thấy là lạ, nếu không là kỳ cục.

Như vậy bảo rằng nhân loại giống nhau quả có giống, nhưng chú ý đến chỗ khác nhau thì cái khác cũng sâu xa lắm lắm.Hơn ba mươi năm trước, khi những cuốn truyện của Pearl S. Buck ra đời, Âu Mỹ lấy làm ngạc nhiên. Trong bài tựa cuốn Người mẹ, Louis Gillet cho rằng Pearl Buck đã trình bày được chỗ lạ lùng nhất của người Tàu, ấy là họ rất giống người Âu Mỹ.

Xưa kia, phương tiện giao thông hiếm hoi, xứ xứ cách nhau, người người xa nhau, vì vậy dân Tàu cho dân Âu là quiû, dân Âu cho dân Tàu cổ quái: tục lệ kỳ dị, ăn mặc lố lăng, ngôn ngữ líu lo. Cái bề ngoài dị biệt làm cho các dân tộc không hiểu nhau. Sau bước đầu tiên kết thân, người ta thở ra nhẹ nhõm: Thì ra Tàu với Tây cùng là người cả, không ai là quỉ. Cũng hỉ, nộ, ai, lạc… Giống nhau đáo để! Hay nhỉ.

Nhưng rồi gần gũi lâu dài hơn chút nữa, đi sâu vào các hỉ nộ ai lạc ấy, mới lại thấy muôn vàn khía cạnh khác nhau.
Như thế có một thời kỳ để chúng ta phát giác ra chỗ giống, và một thời kỳ nữa để nhận định ra các chỗ khác của nhau.
Một cuốn sách về cơ học, dịch ra tiếng nước nào cũng hiểu được cùng một cách; nhưng một tác phẩm văn nghệ phải tìm đến những tâm hồn đồng điệu. Bạn đồng điệu, tôi ngờ rằng không thể cách ta quá xa trong không gian.

Thỉnh thoảng gặp những người không thích ứng được với những món ăn của đồng bào khác địa phương ở ngay trong nước mình, mà lại tiếp đón niềm nở tấm tắc ngợi khen ngay các hình thức văn nghệ mới lạ từ xa đến, các trường hợp đó đôi khi đáng ngờ.Cơ thể chọn món ăn riêng cho nó và có những yêu ghét rõ rệt; tâm hồn chọn cái đọc lại dễ dàng hơn sao?

Nguồn: Tạp chí Tân Văn số 4. — Xuất bản trong cuốn Tạp luận năm 1973, tại Sài Gòn

(Dân News)