Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân Quyền-Dân Chủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân Quyền-Dân Chủ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Nguyễn Cao Quyền - Đấu tranh cho chủ nghĩa Bao dung tại Trung Hoa Cộng Sản

Vụ sập cầu xảy vào lúc 3h30 sáng. Đúng lúc đó một chiếc xe tải hạng nặng đi ngang qua nên cả người và xe đều rơi sập xuống.


Trung quốc đã thay đổi trong hơn một phần tư thế kỷ qua, lớn lao nhất là những thay đổi tác động lên nền kinh tế của xứ này. Trong khi đó, hầu như chẳng có một sự thay đổi nào liên quan đến hệ thống chính trị, một thể chế độc tài độc đảng.

Đối với người dân Trung Quốc thì luồng đầu tư nước ngoài đổ vào đất nước này lại là một bi kịch trớ trêu, vì nó đã tiếp sức mạnh cho chính quyền đàn áp nhân dân. Hơn 900 triệu người dân nông thôn tiếp tục phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày để tồn tại. Hàng năm tại những nơi xa xôi hẻo lánh,150.000 vụ tự tử bằng thuốc độc đã thành công và 300.000 vụ khác thất bại. Sự nghèo đói và sự lam dụng quyền thế của các quan chức địa phương đã là những lý do của các bi kịch nói trên. Mọi cuộc phản kháng đều bị lực lượng vũ trang của chính phủ dập tắt.


Trước tình hình khó khăn đó, và trước môi trường đấu tranh cho nhân quyền thuận lợi như hiện nay, xã hội Trung Quốc đang chuyển hướng về phía Tư Do bằng những bước đi chậm chạp. Xin qúy độc giả theo dõi những đoạn viết tiếp theo.

Chủ nghĩa tự do đã trở lại

“Mùa xuân Bấc Kinh” là tên gọi hai giai đọan đấu tranh cho tự do xảy ra tại Trung Quốc tương tự như “Muà Xuân Praha” xảy ra tại Tiệp Khắc năm 1968. Mủa Xuân Bắc Kinh lần thứ nhất xảy ra trong hai năm 1977-1978 sau khi Mao Trạch Đông qua đời. Mùa Xuân Bắc Kinh lần thứ hai xảy ra trong hai năm 1997-1998 sau khi Đặng Tiểu Bình tạ thế. Trong cả hai thời gian ngắn ngủi này, dân chúng đã được hưởng một không khí chính trị tương đối cởi mở để phê phán chính quyền.

Lần thứ nhất họ phê phán những lỗi lầm nghiêm trọng mà chính quyền đã phạm trong Cách Mạng Văn Hóa. Lần thứ hai, họ đăng ký thành lập Đảng Dân Chủ Trung Quốc. Cả hai giai đọan đều chấm dứt bằng những cuộc đàn áp khốc liệt các nhà hoạt động đối lập, đặc biệt là đối với các thành phần của Đảng Dân Chủ.

Trong Mùa Xuân Bắc Kinh lần thứ hai các nhà đấu tranh đưa ra hai đề xuất. Thứ nhất, thực hiện một số cải cách chính trị căn bản. Thứ hai, nghiên cứu thay thế chế độ hiện hữu bằng thể chế Tự Do.

Đòi hỏi thứ nhất bị bóp chết ngay tức khắc, trong khi đòi hỏi thứ hai đã gây một tiếng vang kéo dài đến ngày nay. Trước phản ứng của chính quyền, các tác gỉa cùa đề xuất thứ hai nói : “chủ nghĩa Tự Do đã trở lại Trung Quốc sau 40 năm vắng bóng”. Báo chí Tây Phương thì cho rằng chủ nghĩa Tự Do tại Trung Quốc là phó sản của kinh tế thị trường áp dụng tại xứ này.

Lịch sứ cận đại của tư tưởng Tư Do tại Trung Quốc

Nhìn vào lịch sử cận đại, ta thấy tư tưởng Tự Do đã có từ thời Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch, trước khi Mao Trạch Đông làm chủ toàn cõi Trung Hoa năm 1949. Tư tưởng đó trỗi dậy sau cuộc tthảm sát Thiên An Môn 1989, vì ý thức hệ cộng sản đã phai nhạt, chế độ độc trị đã lỗi thời và tàn lụi. Sự trở lại đó xuất hiện dưới dạng một tầng lớp trí thức học cao hiểu rộng dấn thân đấu tranh cho một “xã hội Tư Do điều hành bởi một nhà nước có tinh thần trách nhiệm”.

Xã hội Trung Quốc bây giờ đã thay đổi. Kinh tế thị trường đang phát triển trong khi chế độ độc trị Stalinít ̣đang lột xác để chỉ còn giữ lại một hình thái độc tài độc đảng. Kinh tế phát triển đã tạo nên một tầng lớp trung lưu giàu có và yêu chuộng tự do. Ý thức hệ Mác Xít tuy còn là chỗ dựa của Đảng nhưng đã biến mất khỏi thực tế của xã hội.

Giai cấp trung lưu mỗi ngày thêm lớn mạnh khi khoảng cách giữa ý thức hệ lỗi thời và kinh tế thị trường được xác định. Xã hội dân sự, với các tổ chức phi chính phủ không được phép, trở thành rõ nét.

Ấn phẩm dân chủ nhập cảng lậu ào ào đổ vào thị trường quốc nội. Hơn 20.000 bản dịch cuốn The Constitution of Liberty của Von Hayek được tiêu thụ trong nháy mắt, và nhu cầu tái bản đòi hỏi phải xúc tiến không chậm trễ. Tư tưởng tự do lan toả khắp nơi.

Trước khi có chính sách “mở cửa” của Đặng Tiểu Bình, tầng lớp trí thức Trung Quốc quẩn quanh trong không gian thu hẹp của ý thức hệ cộng sản lỗi thời. Sau thời “mở cửa” hàng ngũ dân chủ đấu tranh lớn mạnh dần và chia làm hai nhóm : nhóm Dân Chủ và nhóm Mác Xít Nhân Bản.

Nhóm Dân Chủ tìm thấy ở Chủ Nghĩa Tự Do (liberalism) một phương pháp đấu tranh mới và họ đã biến chũ nghĩa này thành hành động. Trong nhận định của họ, chủ nghĩa tự do đích thực là sát tinh của chế độ độc trị và là thần dược chữa bệnh độc tài. Vào lúc này họ cố gắng không để lỡ chuyến tàu lịch sử thêm lần nữa như trước đâ họ đã không theo kịp làn sóng dân chủ hóa thứ ba của nhân loại.


Economic Bubble


Phong trào đấu tranh cho chủ nghĩa tự do đã xuất hiện tại Trung Quốc trước khi Mao Trạch Đông cướp chính quyền năm 1949, nhưng không thành công vì đã phạm lỗi lầm mà giờ đây cần xét lại.

Thời bấy giờ, “chủ nghĩa Tự Do Cổ Điển” (Classical Liberalism) chưa phải là thứ mà các nhà tranh đấu dân chủ Trung Hoa áp dụng. Họ mới chí biết tới thuyết Tự Do mang tính xã hội của John Dewey và Harold Lasky. Vì chạy theo thuyết này nên họ đã không quan tâm đến kinh tế thị trường, quyền tư hữu và tự do kinh doanh là những mục tiêu cốt yếu cần ưu tiên thực hiện. Thay vì trông gương Cách Mạng Hoa Kỳ năm 1786 họ đã chịu ảnh hưởng của cuộc Cách mạng Pháp năm 1789.

Rất may trong hiện tại họ đã quay về với “chủ nghĩa Tự Do Cổ Điển” của John Locke, Adam Smith, David Hume, Montesquieu, Von Hayek… Nói khác, ngày nay họ đã phân biệt được rõ ràng nội dung của hai thuật nghữ Dân Chủ và Tự Do.

Chủ nghĩa Tự Do Cổ Điển hiện nay đang phát riển mạnh mẽ tại Hoa Lục với những nét đặc trưng như tự do kinh tế, tự do tư hữu, chủ nghĩa pháp trị, chủ nghĩa đa nguyên, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa bao dung và sự hạn chế quyền lực nhà nước. Đó là mốt số giá trị căn bản của tự do cần được tiến hành trong đấu tranh, đồng bộ với các giá trị dân chủ khác.

Tại Trung Quốc hiện nay những tác phẩm nổi tiếng cùa Von Hayek như The Road To Serfdom, The Constitution Of Liberty, The Fatal Conceit .. đã được dịch sang tiếng Trung Hoa và phổ biến khắp nơi. Giáo sư và sinh viên đại học Bắc Kinh đã lập ra một nhóm lấy tên là Austrian Group gồm toàn đệ tử của Triedrich Von Hayek.

Thực tế của Tự Do tại Trung Quốc hiện nay

Mặc dầu văn hóa Trung Quốc rất đối lập với ý niệm Tự Do, nhưng trong thực tế đời sống, người Trung Hoa không bao giờ chấp nhận tài sản của họ có thể bị tịch thu một cách tùy tiện bởi chính quyền . Họ cũng không chấp nhận bị tước đoạt các quyền tự do lập ngôn, tự do lập hội và tự do tôn giáo.

Họ phản đối mạnh mẽ mỗi khi bị buộc tội phản nghịch chỉ vì muốn đóng góp ý kiến vào những quyết định chung cho cả nước. Họ phản đối vì những việc đó trái với khát vọng tự do là khát vọng chung của loài người. Cho nên phải tin tưởng là tự do sẽ thắng thế tại xứ này. Trung Quốc không thể là ngoại lệ vì tự do mang tính phổ quát.

Ngoài thực tế nói trên, hiện nay Tung Quốc còn bị chi phối bởi một định luật khác là tự do đương nhiên đi đôi với kinh tế thị trường. Vậy nếu kinh tế thị trường không thể thay đổi thì tự do cũng không thể nào dập tắt. Nói khác, nếu kinh tế thị trường đã trở thành bắc buộc thỉ tự do cũng không thể nào chờ đợi lâu hơn được nữa.

Những nhà đấu tranh cho tự do tại Hoa Lục đang theo đuổi chiến lược của họ. Thay vì đọ sức với chính quyền để nắm chắc thất bại, họ quay sang uốn nắn đám đông. Cương lĩnh đấu tranh mới của họ là chính quyền phải đơn giản hóa phần lớn sự cồng kềnh không cần thiết của bộ máy nhà nước khi kinh tế hoạch định đã bị hủy bỏ. Việc làm này cần thiết để chuyển gánh nặng thuế khóa sang chăm lo phúc lợi của toàn dân. Cần thiết hơn nữa là để chính quyền làm quen với tinh thần trách nhiệm thay vì cứ giữ thói quen ra lệnh vô trách nhiệm từ thượng tầng quyền lực.

Trước sự tấn công của phe tự do, phe bảo thủ ra sức nhập cảng nhiều chủ nghĩa mới làm đối trọng tư tưởng, như chủ nghĩa Tân Mác Xít (Neo-Marxism) hay chủ nhĩa Dân Túy (Populism)… Tuy nhiên các chủ nghĩa mới này tỏ ra xa lạ và khó hiểu nên quần chúng tiếp tục ủng hộ những đấu tranh thiết thực hơn đến từ chủ nghĩa Tự Do Cổ Điển như tự do tư hữu, tự do kinh doanh và những tự do truyền thống khác.

Với nỗ lực đấu tranh kiên trì, người dân Trung Quốc tôn trọng nhân quyền và quyền tư hữu, ủng hộ tăng quyền của cơ quan lập pháp, thực thi độc lập của ngành tư pháp, kiểm soát quân đội và ngành cảnh sát, xây dựng xã hội dân sự, tạo điều kiện và nới rộng sự tham gia của người dân vào những quyết định liên quan đến ích lợi chung.

China’s economy is not collapsing


Đấu tranh cho một sự bao dung của xã hội

Trung Quốc là một nước đông dân với một nền văn hóa vô cùng phức tạp. Đành rằng nền văn hóa này cũng có một vài dấu tích về dân chủ, nhưng trọng lượng của di sản văn hóa đó lúc nào cũng đè nặng lên xã hội và không chịu buông tha ngay cả khi nhân loại đã bước sang một nền văn minh mới. Điều này là một trở ngại cho dân tộc và đất nước Trung Hoa trên con đường xây dựng dân chủ và phát triển.

Trong khi chờ đợi một thay đổi lớn, dân chúng Hoa Lục tiếp tục đấu tranh cho một sự “bao dung” của xã hội. Họ tin tưởng vào kết quả của nỗ lực đấu tranh này vì chỉ với đôi chút bao dung, dân chúng đã được hưởng gần ba thập kỷ ổn định để phát triển. Cho nên để thúc đẩy bao dung họ đã hành động theo nhiều cách.

Đầu tiên, họ đã xác lập điều này trong luật học và coi đó là tấm gương cho thiên hạ soi chung. Họ quan niệm giáo dục cần được chú trọng hơn trừng phạt. Sự trừng phạt chỉ được dùng như công cụ phù trợ. Hiện tại, con số phạm nhân bị sử tử hình hàng năm ở Trung Quốc là vào khoảng 10.000 ngưới. Xã hội phải chịu nhận một số trách nhiệm vì đã không có một sự giáo dục thỏa đáng. Ngưới Trung Quốc là một dân tộc khoan dung nhưng Cách Mạng Văn Hóa đã tiêu diệt truyền thống tốt đẹp đó. Phải giảm thiểu tối đa các vụ án tử hình để đi đến chỗ từ bỏ hẳn hình phạt dã man này.

Tiếp theo họ đã đòi hỏi phải cải thiện nhiều hơn trong cách đối xử với tù nhân chính trị. Trong lãnh vực này, thứ nhất, họ đòi hỏi phải loại bỏ tội “phản cách mạng” mà họ coi là một khái niệm rất mơ hồ. Thứ hai, họ đòi hỏi phải từ bỏ hình phạt “tử hình”kể từ khi “mở cửa”. Thứ ba, họ đòi hỏi phải tôn trọng lý thuyết : không được trừng phạt những người phản kháng chính trị.

Thay án tử hình bằng một án tù là một bước cải thiện. Đổi án tù dài hạn thành án tù ngắn hạn là một bước tiến thứ hai. Và nếu Đảng CSTQ tuyên bố ân xá cho các tù nhân chính trị thì tính chính đáng của Đảng sẽ được nâng cao, vị thế quốc tế của Đảng sẽ tăng lên và một bầu không khí thông cảm và thân thiện hơn sẽ được tạo ra cho các thảo luận chính trị trong nước và ngoài nước.

Dân chủ hóa là một quá trình học tập triền miên đối với tất cả mọi người, chính phủ cũng như nhân dân. Chỉ có tinh thần “bao dung” mới có thể liên kết họ đươc với nhau và tạo ra sự ổn định cho phát triển. Sự thành công hay thất bại trong công cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa Tự Do sẽ ảnh hưởng đến bản chất hiếu hòa hay hiếu chiến của Trung Quốc trong tương lai. Lúc này là lúc cộng đồng thế giới phải tạo áp lực mạnh mẽ để lái toàn khối Hoa Lục vào con đượng Tự Do của nền văn minh dân chủ.

NGUYỄN CAO QUYỀN
Tháng 10 năm 2015

(Việt Thức)

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Người Buôn Gió - Vài điều suy nghĩ ở cái chết Đỗ Đăng Dư đọc từ báo đảng Cộng Sản.


Câu chuyện về cái chết của Đỗ Đăng Dư trong trại giam số 3 công an TPHN gây xôn xao dư luận. Về khía cạnh pháp luật thì đã có những người am hiểu bình luận, nhất là về thi hành giam giữ, khởi tố với người dưới 18 tuổi.

Tuy nhiên bài viết này nhìn từ góc độ kinh nghiệm của một người từng kinh qua tất cả các thể loại tạm giam trong chế độ này.

 Sau nhiều ngày im ắm từ khi cháu Dư đưa vào bệnh viện. Đến khi tin cháu Dư chết được xác nhận chính thức. Đồng loạt báo chí đưa ra một bản tin gần như giống nhau hoàn toàn. Điều đó cho thấy báo chí được lệnh im lặng  chờ đợi và chuẩn bị khi nào đưa bài. Một sự chỉ đạo được từng ấy báo chí có lẽ phải từ cỡ Bộ Chính Trị.

Thứ nhất.

Báo Tiền Phong mô tả


Các bị can bị tạm giam cùng buồng đã đỡ và hô hoán báo cáo cán bộ quản lý để đưa Dư đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông. Đến tối cùng ngày, Dư được chuyển lên Bệnh viện Bạch Mai để tiếp tục theo dõi, điều trị.

Báo An ninh thủ đô mô tả.


Khoảng 5 phút sau, Dư đi ra khỏi khu vệ sinh thì bị ngã xuống sàn nhà. Bình, Trường và Đức Anh đã chạy lại đỡ Dư dậy. Cùng lúc đó, đồng chí Nguyễn Mạnh Cường - cán bộ quản giáo phát hiện sự việc như trên đã báo cáo chỉ huy đơn vị. Ban Giám thị Trại tạm giam số 3 đã chỉ đạo khẩn trương đưa Đỗ Đăng Dư đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Hà Đông,

Theo các bạn thì sự thật nằm ở đâu, phạm nhân hô hoán để cán bộ quản giáo biết hay là cán bộ quản giáo cùng lúc đó phát hiện sự việc. Tóm lại là pham nhân hô hoán hay cán bộ phát hiện. Đây là điểm mâu thuẫn rất lớn giữa hai tờ báo lớn. Sự mâu thuẫn này cho thấy có sự giả tạo ở thời điểm nhạy cảm, quan trọng nhất trong tình tiết vụ án đó là phát hiện vụ án. Và nếu như vụ án được bắt đầu bằng một sự giả tạo thì ắt quá trình của nó phải mang đậm sự giả tạo, đó là điều tất nhiên.

Đoạn tin dưới đây tất cả các tờ báo đều đưa tin giống nhau.

Khoảng 8h30 ngày 4-10-2015, Dư, Bình, Trường và Đức Anh ăn sáng tại buồng giam. Theo lịch phân công, sau khi ăn xong Dư phải rửa bát cho các bị can cùng buồng. Do thấy Dư rửa bát bẩn, Bình gọi Dư đến ngồi ở khu vực giữa 2 bệ xi măng nơi bị can ngủ. Bình đứng đối diện Dư và dùng tay phải tát 2 cái vào má trái, dùng chân trái đá 3, 4 lần vào đầu Dư theo hướng từ trên xuống dưới.

Với những người bình thường khi đọc sẽ không phát hiện được điều gì trong mẩu tin đưa trên. Nhưng với số lượng  gần 5000 người bị tạm giam ( không tính tạm giữ ) một năm ở Hà Nội ( khi chưa nhập Hà Tây ). Ít nhất sẽ có vài chục nghìn người ở Hà Nội từng bị tam giam thấy điểm khác lạ trong bản tin này.

Thứ hai không có lịch phân công rửa bát trong buồng tạm giam công an TP. Chỉ có ''nhân dân '' hay '' lái xe '' ..những thành phần bị bắt nạt, hèn yếu nhất trong buồng giam phải thực hiện công việc này.
Thứ ba, mọi việc đánh đập không bao giờ diễn ra vào buổi sáng tầm 8 giờ 30, nhất là một cách nghe rất truyền thống là bắt đồng phạm quỳ dưới '' mà '' ( tiếng lóng chỉ lối đi giữa sàn ). Đây là giờ mà cán bộ gọi lấy cung, đi lấy quà, lăn tay...vi thế mọi việc tra tấn giữa các tù nhân với nhau như vậy chỉ diễn ra vào buổi chiều tối. Sau giờ điểm danh.

Thứ ba là tù nhân ăn gì vào buổi sáng mà dùng đến bát, đũa, thìa. Ăn mỳ tôm hay ăn xôi, miến, phở. Hay trại giam số 3 Hà Tây có cho tù nhân ăn bữa sáng đựng trong bát.? Người viết bài này đã trải qua gần như tất cả các thể loại tạm giam, từ công an phường, công an quận, công an thành phố đến công an bộ. Chưa bao giờ trại giam cấp ăn sáng cho tù nhân. Ở trại tạm giam số 1 của CATPHN tất cả bát nhựa đều để ở khu ngoài có khoá ngăn, đến giờ ăn trưa phạm nhân được mở ra lấy bát ăn cơm, sau đó cất lại khu ngoài.  Chỉ có những đại ca có tên tuổi trong giang hồ hoặc là đại bàng trong buồng giam mới có suất ăn sáng bằng bát nhựa, có thể dùng nhựa và vải vụn làm chất đốt để đun nước sôi nấu mỳ tôm.

Thứ tư.

Thế mà mấy thằng oắt con chưa đến 18 tuổi ăn sáng trong buồng tạm giam bằng bát. Muốn ăn thế thì gia đình phải hối lộ vài triệu một thằng cho quản giáo trong một tháng để quản giáo làm ngơ cho đun nấu, mang bát vào ăn, ăn sáng một cách thảnh thơi như vậy.

Thứ năm.

Chúng ta nên nhớ Lê Văn Luyện, sát thủ 17 tuổi bị giam chung với các phạm nhân khác đều thành niên. Không có cái gọi là phòng giam C15 nào để giam riêng vị thành niên cả. Tôi đã từng ở chung phòng với một cậu bé giết 16 tuổi phạm tội giết người và ông già 65 tuổi tội lừa đảo. Nếu ở trại tạm giam có phòng giam cho trẻ em dưới 18 tuổi thì bắt buộc các trại giam, trại cải tạo cũng phải có phòng cho trẻ em dưới 18 tuổi. Thực tế là trẻ em dưới 18 tuổi phạm tội đến mức phải bị lệnh tạm giam rất ít, trừ những tội đặc biệt nghiêm trọng ..vì thế trại tù không có phòng cho trẻ em dưới 18 tuổi. Thường thì chúng sẽ được ưu ái giam vào buồng tiền án, tiền sự lần đầu hay tiếng lóng gọi là ''tù con so ''.

Vậy là 5 điều khó tin nhất trong nhà tù lại xảy ra cùng một lúc. Sự thực thì những yếu tố này có thể diễn ra trong nhà tù, nhưng ở tỷ lệ cực thấp cho mỗi yếu tố. Nhưng ở vụ án này xác suất thật tình cờ đến kinh ngạc là cả 5 yếu tố khó tin lại có thể có cùng một lúc.

Thứ sáu.

17 tuổi Đỗ Đăng Dư bị bạn tù là Vũ Văn Bình đánh chết. Cái cách đánh mà chỉ có những đại bàng từng trải, có uy lực mới làm được. Đó là đủ uy vũ để bắt người khác quỳ xuống và dùng chân đá theo hướng từ trên xuống.

'' dùng chân trái đá 3, 4 lần vào đầu Dư theo hướng từ trên xuống dưới.''

Bạn hãy thử hình dung bạn đánh một người đang ngồi, bạn đá từ trên xuống sẽ thế nào.? Người bình thường chỉ đá từ dưới lên vào mặt hay ngực người ngồi. Vũ Văn Bình mới 17 tuổi đi chân đất ( trong tù không có giầy , nếu có chỉ là giày vải mềm loại buộc giây nhưng đã bị quản giáo thu dây ) đá vào đầu Dư theo hướng từ trên xuống. Không ai dại gì đá từ trên xuống vào đỉnh sọ người, vì đó là chỗ cứng nhất, thế đá lại khó nhất. Vậy mà Vũ Văn Bình thực hiện được những cú đá như trong báo chí miêu tả.

Sự thực chỉ có thể trong tình huống ấy là Vũ Văn Bình giơ gót chân và nện xuống lưng của Đỗ Đăng Dư. Bất kể ai từng đi tù đều hiểu đó là cách đánh phổ thông nhất. Nhưng thường người thực hiện đánh như vậy là người có nhiều năm tù giam ở những trại tạm giam, trại tù mới có kinh nghiệm để thực hiện. Nếu Vũ Văn Bình trước đó từng bị giam giữ nhiều lần hay qua trường giáo dưỡng thì có thể Bình biết được cách đánh chuyên nghiệp như vậy. Nhưng nếu Bình đã rành cách đánh như thế thì Bình sẽ hiểu quy tắc  không thể manh động đánh trong giờ hành chính. Một người có cách đánh điềm tĩnh, lỳ lợm, uy hiếp đầy toan tính như bắt người khác ngồi dưới lòng '' mà'' ( nơi tiện cho việc tra tấn nhất trong buồng giam ) không thể nào manh động làm trái điều cốt lõi của việc hành hạ tù nhân khác là  đánh ngay trong giờ cao điểm là 8 giờ 30.

Thứ bảy.

Thủ phạm Vũ Văn Bình ở tuổi vị thành niên, sau khi đánh chết Đỗ Đăng Dư bị khởi tố vì tội '' cố ý gây thương tích ''. Các nhân chứng trong buồng đều dưới 18 tuổi. Nguyên nhân xuất phát từ Dư thiếu trách nhiệm trong việc rửa bát cho sạch theo lịch phân công. Thủ phạm không dùng hung khí chỉ dùng tay chân không đánh vài phát.

Những tình tiết ngẫu nhiên có được sẽ là điều khoản giảm tội Vũ Văn Bình đến tối đa.

Những yếu tố cực kỳ hiếm hoi có thể xảy ra bỗng nhiên xuất hiện đồng loạt trong cái chết của Đỗ Đăng Dư. Mới kể sơ sơ đã là 7 yếu tố mà bất kỳ ai từng ngồi trong trại giam đều thấy được. Đây là một kịch bản được dưng lên, những yếu tố được lồng ghép để vụ việc thành đơn giản. Việc luật sư chứng kiến việc mổ tử thi không ký vào biên bản không phải là điều hay như người ta vẫn nghĩ. Lẽ ra anh ta phải xin sao ra làm hai bản. Anh ta ký nhận vào một bản và ghi rõ lý do tôi đồng ý với những vết thương bên ngoài như đã thể hiện trong biên bản và tôi phản đối biên bản khám nghiệm  vì có những vết thương nội tạng bên trong không được thể hiện. 

Công nhận những vết thương bên ngoài như đã nhìn thấy. Như thế ít ra anh ta sẽ có chứng cứ về những vết thương bên ngoài. Mà vết thương bên ngoài do dùng chân không đá thì để lại dấu vết thế nào hay không thì quá dễ hiểu, nhất là dẫn đến tử vong, điều ấy chỉ có trong truyện của Kim Dung.

Nhưng anh ta đã không ký nhận mặc dù có mặt, anh ta trở ra tay không với lời khuyên gia đình nên mang xác đi chôn luôn, để đó chả giải quyết gì. Đó là điều tôi không thể nào hiểu nổi.

Có lẽ tôi không hiểu là phải, vì tôi chưa học xong cấp ba. Còn anh ta đã học xong đại học, thêm khoá học nữa để bồi dưỡng thành luật sư. Suy nghĩ của một thằng kinh nghiệm tù  nhiều và suy nghĩ của một luật sư học hành đầy đủ, đến nơi, đến chốn không thể hiểu nhau là điều tất nhiên. Như câu ví chim sẻ không thể hiểu được chí của đại bàng vậy.

Người Buôn Gió

(FB Người Buôn Gió)

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Song Chi - Hãy tha lỗi cho tôi, nhưng tôi sẽ không cầu chúc cho em R.I.P


Cậu bé 17 tuổi Đỗ Đăng Dư ấy đã chết sau hai tháng bị tạm giam, bị bạo hành tàn nhẫn bởi công an chỉ vì bị nghi trộm một món tiền nhỏ, 2.000.000 VNĐ, tức chưa đến 100USD.

Nỗi đau của người mẹ nghe con ra đi tại bệnh viện Bạch Mai.

Chỉ một vụ tự thiêu của người thanh niên bán rau Mohamed Bouazizi vào tháng 10 năm 2010 đã châm ngòi cho cuộc Cách mạng Tunisia và sau đó lan rộng ra nhiều quốc gia Ả Rập khác, còn ở đất nước này?

Đã có nhiều người tự thiêu như vụ tự thiêu của kỹ sư Phạm Thành Sơn, 31 tuổi, ngày 17.2.2011 trước cửa UBND TP. Đà Nẵng để bày tỏ sự phẫn uất khi mọi khiếu nại về tình trạng cưỡng chiếm đất đai, nạn tham nhũng không được giới hữu trách giải quyết; hay vụ tự thiêu ngày 30.7. 2012 trước cửa UBND tỉnh Bạc Liêu của mẹ nhà báo, cựu tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần vì tranh chấp đất đai nhà cửa với người hàng xóm, đi làm đơn thưa kiện mà không được giải quyết thỏa đáng lại thêm suy nghĩ, uất ức vì con gái bị cầm tù…

Đã có nhiều người bị công an bạo hành đến chết trong thời gian bị tạm giam, lắm khi chỉ vì những lý do rất nhỏ, như vụ anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, bị bắt vào công an huyện Tân Yên, Bắc Giang, chỉ mấy giờ sau, chết trong đồn công an! Ngày 28.2.2011, ông Trịnh Xuân Tùng đi xe máy không đội mũ bảo hiểm đến ga Giáp Bát, Hà Nội, bị công an bắt dẫn về trụ sở công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai. Đến tối ông Tùng bị bầm dập khắp người, tê liệt toàn thân, tám ngày sau ông chết tại Bệnh Viện. Ngày 25.4.2011, anh Nguyễn Công Nhựt được phát hiện chết trong tư thế treo cổ ở trụ sở CA huyện Bến Cát, Bình Dương sau mấy ngày bị mời về trụ sở CA huyện để làm sáng tỏ vụ mất trộm hàng ngàn lốp xe ôtô xảy ra tại Công ty nơi anh làm việc v.v…Cho tới những vụ có dính dáng tới cưỡng chế đất đai như cái chết của ông Nguyễn Thành Năm ở Giáo xứ Cồn Dầu, thành phố Đà Nẵng, chết tại nhà một ngày sau khi bị dân phòng tạm giữ và đánh đâp, ngày 2.7.2010…

Cũng vì bị thu hồi đất, đã có những người phải vào tù vì đường cùng phẫn uất chống lại cường quyền như anh em ông Đoàn Văn Vươn... Có người liều mạng đổi mạng như anh Đặng Ngọc Viết, đã nổ súng vào 5 cán bộ giải phóng mặt bằng tại trụ sở UBND Tỉnh Thái Bình sau đó tự sát, ngày 11.9.2013…

Và còn rất nhiều nữa, những cái chết oan khuất khác trong những năm qua. Nhưng vẫn sẽ chẳng có gì xảy ra.

Và bây giờ là cái chết của cậu bé Đỗ Đăng Dư…Rồi cũng sẽ chẳng có gì xảy ra.

Phải cần thêm bao nhiêu cái chết nữa, bao nhiêu oan khuất nữa thì đủ cho dân tộc này thức tỉnh và đứng dậy?

Hãy tha lỗi cho tôi, nhưng tôi sẽ không cầu chúc cho em RIP, Đỗ Đăng Dư. Tôi cũng không cầu chúc cho tất cả những ai chết oan ức vì bạo quyền, vì sự tàn ác của những kẻ đang nắm trong tay quyền sinh quyền sát trên đất nước này, ba chữ R.I.P. Tôi cũng không mong những linh hồn oan khuất đó trở về để báo oán những kẻ đã gián tiếp hay trực tiếp đẩy họ vào con đường chết, bởi những kẻ đó có chết đi thì cũng sẽ có những kẻ khác ngoi lên khi hệ thống này còn tồn tại.

Tôi mong những linh hồn oan khuất đó, cách này cách khác trở về để nhắc nhở trong những ai còn đang sống rằng vì sao chúng tôi chết? Rằng hôm qua, hôm nay là chúng tôi, ngày mai có thể sẽ là con, là cha, là chồng, anh chị em, con cháu hoặc ngay chính bản thân anh/chị/bạn sẽ rơi vào trường hợp oan khuất ấy, nếu như tất cả vẫn tiếp tục lặng thinh, lo cho cái tổ của chính mình, mặc kệ mọi chuyện, mặc kệ cho cái ác cái xấu hoàng hành trên đất nước này suốt 7 thập niên qua.

Ngàn lần xin hãy tha lỗi cho tôi, khi tôi không cầu chúc cho em và cho tất cả những oan hồn khác được thanh thản trong lãng quên. Bởi tội ác không được phép lãng quên. Và dân tộc này thì đã sống chung với tội ác lâu quá rồi đến mức không nghe không thấy gì nữa. Dân tộc này đang chìm trong giấc ngủ mê giữa ban ngày, và rất cần được những oan hồn đánh thức!

Song Chi

(FB Song Chi)

Bùi Văn Phú - Sống lưu vong có ngày trở về?

Tháng trước Hà Nội đưa thẳng tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần từ nhà tù ra phi trường, trục xuất đi Mỹ. Một năm trước đó, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải cũng đã bị trục xuất như thế.


Một người từng là công an, một là cựu bộ đội, họ là những tiếng nói tiêu biểu phản kháng các chính sách của Hà Nội về đất đai và tự do tôn giáo, về quan chức tham nhũng và quan hệ Việt-Trung.

Vì tham gia tổ chức biểu tình phản đối Trung Quốc lấn biển và đòi hỏi một nền tự do báo chí cho Việt Nam, họ đã bị giam tù nhiều năm.

Đi lưu vong vì chính trị như Điếu Cày và Tạ Phong Tần là ra đi với một niềm tin và quyết tâm đấu tranh cho một quê hương có tự do, nhân quyền.

Cùng lý tưởng đó, trước họ có Cù Huy Hà Vũ, Trần Khải Thanh Thuỷ, Đoàn Viết Hoạt, Đoàn Thanh Liêm là những tên tuổi người Việt lưu vong được biết đến nhiều ở Mỹ; bên Nga có Nguyễn Minh Cần, Pháp có Bùi Tín.

Tất cả đều mong muốn quê hương có thay đổi chính trị để họ trở về.

Nhưng đi lưu vong vì đối kháng với chế độ cộng sản thường không có cơ hội quay về để tiếp tục đóng vai trò đối lập với nhà nước đương quyền, như đã thấy qua một số người Việt lưu vong từ hơn nửa thế kỷ qua.

Dưới chế độ độc tài, nhưng không phải độc tài cộng sản, thì người dân phải sống lưu vong có nhiều cơ hội hơn để trở về nguyên quán tiếp tục đường đấu tranh.

Từng sống lưu vong

Cựu Thượng Nghị sĩ Benigno Aquino Jr. của Philippines sau ba năm lưu vong ở Mỹ đã về nước năm 1983 khi tình hình chính trị tại quốc gia này có nhiều biến động.

Tuy biết trước những đe doạ từ chính phủ độc tài của Tổng thống Ferdinand Marcos, ông Aquino vẫn quyết định quay về để rồi bị ám sát chết ngay tại phi trường Manila.

Cựu dân biểu và từng là ứng viên tổng thống Nam Hàn Kim Dae-jung sau những năm sống lưu vong ở Nhật và ở Mỹ đã trở về nước tiếp tục tranh đấu chống độc tài quân phiệt cho đến ngày Nam Hàn được dân chủ hoá. Năm 1998 ông đã được bầu chọn làm tổng thống.

                                    Tướng VNCH Nguyễn Khánh từng phải đi sống lưu vong

Thời Việt Nam Cộng hòa đã có nhiều tướng tá như Nguyễn Khánh, Nguyễn Chánh Thi, Dương Văn Minh, Lâm Văn Phát, Vương Văn Đông phải sống lưu vong.

Một tướng lưu vong đã trở về và trở thành nhân tố trong chính trường miền Nam là Tướng Dương Văn Minh.

Đảo chánh 1/11/1963 thành công, Tướng Minh lên nắm quyền không được bao lâu rồi bị các tướng khác truất phế. Sau đó ông phải sống lưu vong nhiều năm ở Thái Lan.

Năm 1971, ông trở về và được những người ủng hộ đề cử ra tranh chức tổng thống, đối đầu với Tổng thống đương nhiệm Nguyễn Văn Thiệu tranh cử nhiệm kỳ hai. Tuy nhiên Tướng Minh đã rút lui vào giờ chót vì cho rằng chính quyền hiện hành sẽ gian lận bầu cử để ông Thiệu tiếp tục làm lãnh đạo.

Tháng 4/1975 Tướng Minh được trao quyền lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa. Hai ngày sau ông ra lệnh cho miền Nam đầu hàng.

Ngoài tướng Minh, trong lịch sử chính trị hơn nửa thế kỷ qua tại Việt Nam, chưa một ai phải đi lưu vong đã được trở về tham gia chính trường và làm thay đổi cục diện chính trị đất nước.

                   Ông Nguyễn Minh Cần rời Việt Nam để sống tại Moscow từ nhiều thập niên

Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Thủ đô Hà Nội Nguyễn Minh Cần năm 1962 được gửi qua Moscow học trường đảng cao cấp, nhưng vì có liên quan đến vụ án xét lại nên ông chọn ở lại Nga và sống lưu vong từ đó đến nay.

Ủy viên Bộ Chính trị Hoàng Văn Hoan thuộc phe thân Trung Quốc nên khi hai nước có xung đột ở biên giới phía bắc, ông đã đào thoát sang Bắc Kinh năm 1979 và sống ở đó cho đến ngày qua đời.

Đại tá Bùi Tín, đại diện phe Tướng Võ Nguyên Giáp, hiện sống lưu vong ở Pháp từ đầu thập niên 1990 đến nay.

Nước Pháp cũng đã là nơi cư trú của cựu bộ trưởng tư pháp Trương Như Tảng, một người vượt biển định cư ở đó từ đầu thập niên 1980.

Khi mới đi lưu vong, ông Tảng đã du hành qua nhiều quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, để vận động một giải pháp chính trị cho Việt Nam nhưng không thành công.

Hơn 30 năm trước có Tướng Hoàng Cơ Minh từ Mỹ, Võ Đại Tôn từ Úc, Trần Văn Bá từ Pháp và những người cùng chung chí hướng đã trở về Việt Nam bằng đường rừng với hy vọng đem lại thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam.

Nhưng tất cả đều thất bại, kẻ bị giết chết, người bị tử hình, kẻ bị bắt giam tù nhiều năm.

Trong hai thập niên qua, một lớp người Việt trẻ cũng đã trở về với lý tưởng đấu tranh cho dân chủ tự do như Đỗ Thành Công, Nguyễn Quốc Quân, Phạm Minh Hoàng nhưng cũng đã bị phát hiện và bắt giam.

Cách đây một thập niên, một tướng Việt Nam Cộng hoà đã trở về là Tướng Nguyễn Cao Kỳ.

                                Sinh viên Thiên An Môn, ông Vương Đan hiện sống tại Đài Loan

Rời Việt Nam trong cuộc di tản năm 1975, qua Mỹ ông hô hào đấu tranh chống cộng sản Hà Nội, tuyên bố giữ quốc tịch Việt Nam, không nhập tịch Mỹ, để tương lai có thể lãnh đạo đất nước.

Năm 2005 ông về nước, không trong vai trò đối lập mà là một người môi giới thương mại.

Năm 2011 Tướng Kỳ qua đời tại Malaysia.

Tại Trung Quốc, sau biến cố Thiên An Môn năm 1989, nhiều lãnh đạo phong trào dân chủ của giới sinh viên như Chai Linh, Vương Đan và Wu'er Kaixi đã phải sống lưu vong đến nay.

Trong khi đó, người tị nạn hay di dân đến Mỹ từ các quốc gia như Campuchia, Iraq và Đài Loan trong những năm qua đã được tham gia vào các sinh hoạt chính trị, vào các cuộc bầu cử tổ chức trong nước.

Ngày đó bao giờ đến?

Nhiều người Việt khi bị buộc rời khỏi quê hương đều mong muốn đất nước có cải cách chính trị đưa đến tự do dân chủ để họ có thể trở về tham gia.

Tuy có nhiều nỗ lực tranh đấu từ hơn nửa thế kỷ qua, ngày đó đã không đến với nhiều người trong đời họ.

Cuối năm ngoái, khi Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vừa đặt chân đến phi trường Los Angeles ở California ông đã phát biểu rằng: “Tôi sang đây đấu tranh là để cho ngày trở về, không phải cho riêng tôi mà cho tất cả đồng bào ở đây.”

                                             Đại tá Bùi Tín sống tại Pháp từ nhiều năm qua

Câu nói của Điếu Cày hàm ý một ngày nào đó có tự do, dân chủ trên quê hương Việt Nam – theo như lý tưởng đấu tranh ông đang theo đuổi – thì ông sẽ trở về, cùng với nhiều người Việt khác đang sống tha hương ở xứ người.

Hai từ “trở về” đối với nhiều người Việt sống ở nước ngoài không mang nặng tính chính trị như ý muốn trở về của Điếu Cày, vì rất nhiều người, từ khi rời bỏ quê hương ra đi, vượt qua bao gian nguy và sau khi đã chọn xứ người làm quê hương thứ hai, có cuộc sống ổn định thì nhiều người đã trở về nguyên quán ít ra một lần.

Trở về để thấy lại xóm làng, thăm anh em bà con, bạn bè rồi lại quay về nơi đang sinh sống. Với nhiều người, cuộc sống không còn nặng tính lưu vong, tuy luôn mong cho đất Việt có tự do dân chủ, nhưng không phải lúc nào cũng đau đáu nghĩ về quê hương cũ mà lo âu thường xuyên hơn là về cuộc sống hiện tại nơi quê hương mới.

Ngày về của Điếu Cày cũng như của nhiều người Việt lưu vong khác là khi nào và trong điều kiện ra sao thì khó biết trước được. Cho đến khi có những biến động chính trị tại Việt Nam.

Với xu thế dân chủ thời đại và trào lưu hội nhập cùng thế giới, hy vọng ngày đó không còn xa.



Bài viết phản ánh quan điểm của tác giả, một nhà giáo hiện dạy đại học cộng đồng tại vùng Vịnh San Francisco, California

(BBC)

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Một cách nhìn tham nhũng và chống tham nhũng

"...dân chủ chỉ là điều kiện cần chứ không đủ để đẩy lùi tham nhũng. Không thiếu gì những quốc gia có dân chủ mà vẫn bị tham nhũng đục khoét một cách nghiêm trọng. Không thể chống tham nhũng một cách lãng mạn. Tham nhũng là một liên minh quyền lực và quyền lợi với rất nhiều phương tiện, với tất cả lòng tham và quyết tâm, và cả dã tâm nếu cần. Muốn chống tham nhũng phải có lực lượng và tổ chức, tổ chức của những người quyết tâm coi cuộc chiến đấu chống tham nhũng như cuộc chiến đấu của đời mình..."


Có một cái gì không ổn trong những bài viết về tham nhũng. Các bài này đều giống nhau ở chỗ chúng đều gồm hai phần: phần đầu trình bày và tố giác tham nhũng; phần sau đề nghị những biện pháp để chống tham nhũng. Phần đầu thường rất đặc sắc, nhất là nếu lại phơi bày những trường hợp tham nhũng cụ thể. Phần thứ hai thường tẻ nhạt vì không có gì đặc sắc.

Nói chung những biện pháp chống tham nhũng được lặp lại nhiều lần là phải dân chủ hóa, phải tăng cường các đạo luật và các định chế chống tham nhũng, phải tăng lương cho công chức để họ đủ sống và không bị bắt buộc phải tham nhũng. Dân chủ hóa là đề nghị đúng nhưng chưa được biện luận một cách thuyết phục, hai biện pháp còn lại thì phải nói thẳng là hời hợt.

Các định chế chống tham nhũng hiện nay đã có nhiều lắm rồi, nhưng chính các quan chức có nhiệm vụ chống tham nhũng trong nhiều trường hợp lại tham nhũng. Luật pháp chống tham nhũng hiện nay đã quá khắt khe rồi, nhận hối lộ 30.000 USD có thể bị xử tử. Khó tìm ra nước nào có luật pháp chống tham nhũng dữ dằn hơn Việt Nam, nhưng tham nhũng vẫn tăng lên chứ không giảm đi. Ở một mặt khác, luật lệ chống tham nhũng quá khe khắt còn có thể đem lại cho kẻ tham nhũng một cảm giác hãnh diện là đã dám dũng cảm bất chấp hiểm nghèo ; luật pháp hung bạo nhất không phải là luật pháp hiệu lực nhất. Tăng lương công chức là điều nên làm trong giới hạn khả năng của nhà nước, nhưng để chống tham nhũng nó chỉ có tác dụng của một thứ thuốc xoa bóp ngoài da, không chữa được căn bệnh. Những người tham nhũng nhất và gây thiệt hại nhiều nhất không phải là những công chức nghèo, trái lại họ là những người quyền thế, hoàn toàn không thiếu bất cứ gì, họ có thể bỏ hàng triệu đô la Mỹ để cá độ một trận bóng đá, họ là những người mà ông Mai Chí Thọ mô tả là "ăn kinh khủng, giàu kinh khủng".

Như vậy cần xét lại cách nhìn và những lý luận của chúng ta về tham nhũng.

Trước hết phải hiểu tham nhũng là gì ? Trong giới hạn của một cuộc thảo luận về hiện tượng tham nhũng trong guồng máy nhà nước, ta có thể định nghĩa tham nhũng là một vi phạm đạo đức bằng cách sử dụng công quyền cho lợi ích cá nhân.

Ðịnh nghĩa này quan trọng. Nó chứa đựng nhiều khái niệm cần được hiểu rõ nếu muốn có một cái nhìn đúng đắn về tham nhũng và về cách chống tham nhũng. 

Trước hết là khái niệm đạo đức. Không ai, kể cả những đầu sỏ tham nhũng phủ nhận rằng tham nhũng là trái với đạo đức. Nhưng đạo đức là gì ? Những khái niệm về đạo đức - như thiện ác, tốt xấu - và những phán quyết về đạo đức - như hạnh phúc đáng quí hơn là khổ đau, sự hiểu biết tốt hơn sự ngu dốt, khoan dung tốt hơn hận thù, phải lương thiện chứ đừng gian trá, phải liêm chính chứ đừng tham nhũng, v.v., không thể định nghĩa và giải thích được. Muốn phân tích và giải thích chúng thì phải mô tả chúng bằng những từ ngữ khác không có tính đạo đức, và như vậy vô tình làm mất đi nội dung đạo đức và tính bó buộc của chúng. Một vài thí dụ :

- Tại sao tôi không được tham nhũng, đưa hối lộ và nhận hối lộ ? Phải chăng là vì Chúa và Phật dạy như thế? Nhưng nếu tôi không tin ở Chúa và Phật thì đây không phải là một lý do có trọng lượng. Vả lại, ngay cả nếu tôi tin ở các Ngài thì tôi cũng thừa biết các Ngài rất khoan dung, sẽ tha hết mọi tội lỗi, đồ tể buông dao có thể trở thành bồ tát.

- Phải chăng vì tham nhũng có hại cho xã hội ? Nhưng cái gì buộc tôi phải tránh làm những điều có hại cho xã hội ? Vì sợ bị luật pháp trừng trị ? Nếu anh vừa khờ khạo để bị sa lưới vừa nhút nhát sợ đi tù thì anh đi chỗ khác chơi, còn tôi khôn ngoan và dũng cảm, hơn nữa lại nhiều thế lực, tôi không sợ.

Chúng ta có thể đưa ra nhiều thí dụ khác để chứng tỏ không thể dùng lý luận để chống tham nhũng, bởi vì không có lập luận nào đứng vững được cả. Lý do : mọi lý luận xét cho cùng đều phải bắt đầu bằng những điều hiển nhiên không cần và không thể chứng minh. Lương thiện là tốt, gian trá là xấu, v.v. là những xác quyết không cần và không thể chứng minh ; chúng phải được chấp nhận trước như là khởi điểm của mọi lý luận. Các khái niệm và phán quyết về đạo đức là như thế. Chúng sẵn có trong mỗi người (ngay cả kẻ gian ác nhất cũng ưa thích những người thực thà, nhân hậu) như là di sản cơ bản của cả quá trình tiến hóa của loài người, từ vật chất tới sinh vật, tới khỉ và sau cùng là con người văn minh. Chúng cũng là sản phẩm đúc kết của môi trường thiên nhiên và xã hội. Chúng có phần khách quan vì hiện diện trong mỗi người, nếu không thì không thể nói tới giống người, nhưng hiện diện một cách khác nhau một cách rõ rệt và mãnh liệt hay một cách yếu ớt và mờ nhạt ở từng con người. Một hành động xấu, như tham nhũng, là một hành động bị xã hội lên án nhưng cũng là một hành động mà cá nhân ta ghê tởm và không thể làm. Nhận định này không phải là một triết lý mông lung, nó có một hệ quả rất cụ thể : vì tầm quan trọng của yếu tố chủ quan (có cả một trường phái đạo đức học cho rằng các khái niệm đạo đức hoàn toàn chủ quan, điều xấu đối với người này có thể là tốt đối với người khác) cho nên một người bất lương không thể trở thành một người lương thiện, trừ khi có một chấn động rất mạnh đến từ bên ngoài. Ðồ tể buông dao không thể biến thành bồ tát nếu không gặp một biến cố mạnh, khiến anh ta giác ngộ. Kết luận cụ thể cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng là người ta không thể thay đổi những người tham nhũng thành những người không tham nhũng mà chỉ có thể thay thế những người tham nhũng bằng những người không tham nhũng.

Cũng phải lưu ý rằng đạo đức trong trường hợp của cuộc thảo luận về chống tham nhũng chủ yếu là đạo đức quốc gia, chứ không phải là đạo đức cá nhân thông thường. Kẻ viết bài này đã từng có dịp gặp nhiều người tham nhũng trong cả hai chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước đây và cộng sản bây giờ. Trong quan hệ cá nhân, họ có thể là những người khá lương thiện, thủy chung với bạn bè, giữ lời hứa, dạy dỗ con cái một cách thành công. Nhưng họ tham nhũng vì hầu hết mọi người đều tham nhũng và vì họ không quan tâm một cách đủ mạnh đến những thiệt hại cho đất nước. Nền tảng của thái độ từ khước tham nhũng như vậy vẫn là lòng yêu nước.

Ðến đây ta có thể bàn đến sự cần thiết của dân chủ trong cố gắng chống tham nhũng một cách thuyết phục hơn. Chỉ có chính quyền mới thực sự có khả năng chống tham nhũng, nhưng khi một nhóm người đã tự cho phép mình dùng bạo lực để khống chế cả một dân tộc, bất chấp mọi nguyện vọng và mọi lý luận, thì nhóm người đó trên thực tế đã hành xử như một bọn cướp võ trang uy hiếp con tin bằng họng súng. Một đảng cầm quyền như thế không có tư cách để nói đến chống tham nhũng. Kẻ đã cướp cả đất nước có tư cách gì để lên án những tên móc túi. Và khi đất nước đã bị chiếm đoạt làm của riêng cho một nhóm người thì làm sao còn có thể nói đến lòng yêu nước, nền tảng của đạo đức quốc gia ?

Cũng phải nói đến một khía cạnh khác của sự ham mê tiền bạc bằng mọi giá và sùng bái tiền bạc trên hết, nguyên nhân chính của tham nhũng. Bản tính của con người, dù ý thức được hay không, là mưu tìm sự vinh quang và một tầm quan trọng nào đó, dù trong chính quyền hay trong khoa học, văn học, nghệ thuật hay trong kinh doanh, để được quí trọng. Nhưng trong một đất nước mà quyền lực chính trị chiếm ngự tất cả, và quyền lực chính trị nằm trong tay một đảng tuyên bố thẳng thừng rằng họ sẽ giữ độc quyền chính trị bằng bạo lực trong một thời gian vô hạn định thì người dân, kể cả cá nhân mỗi người trong bộ máy chính quyền, còn có cách nào để tìm kiếm được một chút vinh quang cho mình ? Họ chỉ còn lại một vũ khí là đồng tiền. Ðồng tiền là vũ khí hiệu lực nhất để mua, và lấy lại, một phần quyền lực đã bị tịch thu. Như vậy tham nhũng cũng là hậu quả tự nhiên của chế độ độc tài toàn trị vì nó là phản ứng đề kháng trước bạo quyền chính trị. Muốn chống tham nhũng thì phải trả lại cho xã hội dân sự những quyền lực mà đáng lẽ nó phải có, nghĩa là phải quyền lực hóa (empower) người dân. Nghĩa là phải có dân chủ. 

Trở lại với định nghĩa của tham nhũng như là một vi phạm đạo đức bằng cách sử dụng công quyền cho lợi ích cá nhân. Muốn lạm dụng công quyền cho lợi ích cá nhân một cách an toàn thì trước hết phải có thể lạm dụng công quyền, nghĩa là chính quyền phải kềnh càng, bao trùm và có khả năng giải thích và áp dụng luật pháp một cách tùy tiện để cấm cản và khống chế bất cứ ai. Chỉ có một chính quyền độc tài toàn trị mới có khả năng đó. Như vậy để giải quyết nạn tham nhũng thì trước hết phải giảm bớt quyền lực của nhà nước, phải có một chính quyền nhẹ mà trách nhiệm chính là trọng tài trong các tranh đua trong xã hội và chế tài những sai phạm, nhường không gian tối đa cho ý kiến và sáng kiến của xã hội dân sự và các cá nhân. Một chính quyền dân chủ.

Dân chủ là điều kiện cần để chống tham nhũng. Không phải chỉ vì nó cho phép tố giác những sai phạm như nhiều người đã nói rất đúng, mà chủ yếu là vì nó đem lại cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng một ý nghĩa và một sự chính đáng. Ngoài ra nó còn có khả năng giải quyết vấn đề tham nhũng tận gốc rễ bằng cách thay thế một đảng cầm quyền tham nhũng bằng một đảng cầm quyền khác. Ở trên ta đã nói chỉ có thể thay thế chứ không thể thay đổi một chính quyền tham nhũng.

Nhưng dân chủ chỉ là điều kiện cần chứ không đủ để đẩy lùi tham nhũng. Không thiếu gì những quốc gia có dân chủ mà vẫn bị tham nhũng đục khoét một cách nghiêm trọng. Không thể chống tham nhũng một cách lãng mạn. Tham nhũng là một liên minh quyền lực và quyền lợi với rất nhiều phương tiện, với tất cả lòng tham và quyết tâm, và cả dã tâm nếu cần. Muốn chống tham nhũng phải có lực lượng và tổ chức, tổ chức của những người quyết tâm coi cuộc chiến đấu chống tham nhũng như cuộc chiến đấu của đời mình. Nếu không thì không những không chống được tham nhũng mà còn bị tham nhũng chống và hành hạ. Ai thắc mắc điều này xin hỏi hai ông Phạm Quế Dương và Trần Khuê, những phát ngôn viên của Hội Chống Tham Nhũng. Họ chưa kịp chống tham nhũng đã bị tham nhũng bỏ tù.

Vậy muốn chống tham nhũng thì phải có dân chủ và cũng phải có đội ngũ mạnh, nghĩa là phải có một tổ chức dân chủ thật gắn bó với đầy quyết tâm, của những người dân chủ thực sự và trong sạch thực sự, quyết tâm đánh bại độc tài, bạo lực và lòng tham dù phải chịu những hy sinh lớn. Thú thực tôi chưa có lý do để lạc quan. Khả năng sinh hoạt tổ chức của người Việt mình còn thiếu vắng quá, đại đa số vẫn không sẵn sàng gia nhập vào một tổ chức, thiểu số quí hiếm tham gia một tổ chức thì thường thấy nhiều lý do bất mãn hơn là hài lòng, thấy nhiều lý do để rời bỏ tổ chức hơn là lý do để tiếp tục xây dựng tổ chức. Ðây là cả một cuộc chiến đấu, và là cuộc chiến đấu khó khăn nhất, vì là cuộc chiến đấu của mọi người, và mỗi người, với chính mình.

Sau cùng, cũng phải nêu một đặc tính của chế độ Việt Nam hiện nay. Chủ nghĩa cộng sản tự hào là một chủ nghĩa khoa học và thực tiễn, nghĩa là phủ nhận những giá trị đạo đức sẵn có của loài người như là những giá trị tư sản. Mác hãnh diện về điểm này, ông viết rất nhiều nhưng không bao giờ đề cập đến đạo đức. Lênin thì định nghĩa như sau : "đạo đức là những gì có lợi cho đảng cộng sản". Ngày nay chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ, ngay cả trong thâm tâm của những người lãnh đạo đảng cộng sản, nhưng tinh thần vô đạo đức của nó vẫn còn tồn tại, và tác hại. Chưa kể một yếu tố quan trọng khác : một người biết rằng mình đã mất hết uy tín có thể làm bất cứ gì. Và hiện nay còn ai kính trọng các cấp lãnh đạo cộng sản ?

Nguyễn Gia Kiểng

(Thông Luận)

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Những áp lực trong cuộc sống của các nhà đấu tranh trẻ (phần 1)

Các bạn trẻ Hoàng Thành, Vương Các và Văn Hóa
                                 Các bạn trẻ Hoàng Thành, Vương Các và Văn Hóa         

Việc các bạn trẻ đang dấn thân vào công cuộc đấu tranh cho quyền con người tại VN đang bị chính quyền địa phương nơi họ cư trú gây áp lực lên chủ nhà trọ buộc họ phải dời đi chỗ khác đang ngày một diễn ra càng nhiều tại VN, và đặc biệt là trường hợp của hai bạn trẻ mà nhiều người cũng biết đến gần đây đó là bạn Hoàng Thành và Vương Các.  Và đó cũng là chủ đề cho diễn đàn bạn trẻ kỳ này xung quanh về đề tài này.  mời quý vị cùng chân như đến với tạp chí diễn đàn bạn trẻ sau đây:

Chân Như: Tất cả các bạn đây đều là nhân chứng trong việc bị chủ nhà làm khó buộc phải dời đi chỗ khác vì áp lực từ phía chính quyền, trước hết các bạn có thể chia sẻ về hoàn cảnh của các bạn và nguyên nhân vì sao dẫn đến sự cố này?

Hoàng Thành: Em nghĩ  nguyên nhân đầu tiên là cách đây một tháng  em cầm biểu ngữ  “Học sinh, sinh viên không phải là chuột bạch” trước cửa bộ Giáo dục va cũng là nguyên nhân chính dẫn đến việc trong một tháng vừa rồi hai lần em bị chủ nhà mời ra khỏi nhà. Còn đợt vừa rồi khi em chuyển từ nhà cũ qua nhà mới và làm hợp đồng vào ngày 24 thì đến ngày 29; Lúc đó vào buổi trưa anh chủ nhà cũ gọi điện đến hỏi là đã chuyển đi chưa để hoàn thiện lại nhà và trả cho anh ấy thì đến chiều ngay ngày hôm đó luôn chủ nhà mới gọi điện cho em và thông báo rằng chị ấy không cho mình thuê nữa và yêu cầu ngày hôm sau phải chuyển hết đồ đi. Em nghĩ rằng do công an khu vực đã gây một áp lực cho chủ nhà để trong vòng một tháng họ đuổi em ra khỏi nhà và hạn chế hợp đồng thuê nhà đó là nguyên do chính.

Vương Các: Cách đây khoảng 10 ngày chủ nhà trọ nơi mà tôi đang thuê thì họ có làm việc với tôi trong lúc làm việc họ hỏi thăm về tôi sau đó họ đề nghị là trả lại phòng thuê cho họ trước thời hạn hợp đồng. Khi tôi hỏi lý do họ cho biết bên công an có làm việc với họ. Sau đó, tôi hỏi lý do vì sao sau khi làm việc với công an lại không cho tôi tiếp tục ở đây, bên chủ nhà trọ thì họ không nói lý do họ chỉ cho biết là tôi đang gặp một số vấn đề với bên công an cho nên để tránh áp lực ở chính quyền địa phương, công an địa phương tạo ra cho họ nên họ đành kết thúc hợp đồng sớm để không cho tôi ở trên địa bàn nữa.  Về nguyên nhân  vì sao họ gây áp lực như vậy thì như chúng ta đã biết là những người hoạt động cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam phải luôn chịu những sách nhiễu và những trả đũa từ phía chính quyền, từ việc học hành cho tới việc làm cho tới cuộc sống hằng ngày. Nơi nào bên công an cảm thấy họ có thể gây sức ép được , họ mang sự rắc rối đến cho mình thì họ sẽ sẵn sàng họ làm thôi.  Nói chung đứng về phía góc độ chính quyền địa phương, họ không hoan nghênh mình khi mà mình ở trên chính quyền địa phương của họ; Bởi  nếu có bất kỳ sự kiện nào xẩy ra để nhằm  thúc đẩy cho dân chủ và nhân quyền thì những người ở trên địa bàn đó sẽ được bên bộ công an hoặc là bên công an thành phố để ý, và khi mà họ để ý thì họ sẽ nhờ công an địa phương đó hỗ trợ phối hợp với họ để quản lý những đối tượng này hoặc ngăn chặn việc này. Chính vì thế tôi nghĩ rằng,  nguyên nhân chính của nó là bởi vì họ không muốn, và cũng như đó là để cho họ thuận tiện trong việc quản lý địa bàn.  Đó là lý do chính mà tôi cho rằng bên công an họ không muốn cho những người mà hoạt động dân chủ và nhân quyền ở trên địa bàn của họ.  Nhân đây tôi cũng chia sẻ một câu chuyện cách đây khoảng 2 tháng khi tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội, tôi có bị bắt vào đồn công an của phường Hàng Bườm, quận Hoàn Kiếm. Khi làm việc, trưởng công an phường ở đó có nói với tôi rằng nếu như sau này tôi ra Hà Nội thì ông ấy có thể mời tôi đi uống bia với điều kiện tôi đừng ở trên địa bàn phường mà ông ấy quản lý. Chính vì thế, mình có thể thấy chính quyền địa phương không có hoan nghênh mình, những người đang hoạt động dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam

Chân Như: Còn Văn Hoá thì chắc là một số các quý vị thính giả chưa biết lắm Hoá, thì trước tiên Hoá có thể cho biết đã tham gia vào những hoạt động nào, trước khi có những sự áp lực từ phiá chính quyền?

Văn Hóa: Trước hết Hóa xin chào mọi người.  Trường hợp của Hóa nói chung là hơi khác với mọi người ở đây. Hóa đi làm rồi. có 3 sự việc gần đây xảy ra với Hóa. Thứ nhất là sự kiện ngày 18 tháng 5 biểu tình lớn ở Sài Gòn và Hóa có tham gia, nhưng mà vừa đến chỗ khoảng 30 phút thì những người an ninh bắt mình về dưới quân khu 4 và  lúc đó quá đông nên người ta không làm gì nhiều mình, trên tinh thần họ chỉ làm một số việc rồi cho mình về. Đến sau đợt đó được mấy tháng, Hóa tiếp tục có được bài blog bên wordpress rồi cũng viết bài bên Facebook đăng tải, nhưng sau nó (an ninh) cũng theo dõi mình.  Sau đến ngày 24 tháng 2, 2014 là bị bắt về cũng vì do những việc mình làm, tham gia các hoạt động xã hội, phản đối để nói lên ý kiến của mình, đơn giản vậy thôi.  Điển hình như vụ giàn khoan, mình viết lên facebook thể hiện những quan điểm suy nghĩ của mình, nhưng mà những lý do đó thôi mà cũng bị bắt bớ, sách nhiễu.  Ngày Hóa bị sách nhiễu thì có đi làm ở doanh nghiệp tư nhân thế nên là mình ngủ tại chỗ làm luôn. Tuy nhiên, sau khi bên an ninh họ bắt mình về làm việc xong thì một thời gian sau đó người ta ép bên chủ làm của mình. Người ta đã đề ra một lý do cũng giống như anh Các chia sẻ đó, người ta bảo vướng đến một số vấn đề liên quan đến công an thế là người ta ép mình thôi việc mà không có một lý do chính đáng trong khi đó mình đi làm có hợp đồng mà người ta vi phạm trắng trợn. Bên an ninh ép thế nên bên chỗ làm người ta ngắt hợp đồng mình giữa quãng đẩy mình vào một tình thế rất là khó khăn trong khi đó chưa thể kịp đi xin việc làm. Thậm chí sau buổi bị bắt ở trên phường thuộc quận 12 sau đó khoảng 1 tuần thì bên chủ nhà ép mình do mình thẳng thắn đối đáp lại với người ta vấn đề hợp đồng thuê tháng cho nên mình cứ thế là làm. Tuy nhiên, chỉ sau đó một tuần nó lại cho an ninh giả dạng côn đồ để đánh mình giữa đường, chẳng hạn vào chỗ nào đấy, người ta ép mình giật đồ; Đánh vào kinh tế để không còn chút gì trong người. Như vậy, bắt đầu mình phải đi ra ngoài, phải nghỉ chỗ làm đấy.  Sau khi rời chỗ làm giai đoạn đầu, mình mới từ từ đi thuê phòng trọ gần đấy, nhưng vừa thuê phòng trọ thì nó cũng liên hệ với an ninh địa phương, người ta cũng can thiệp giống trường hợp của anh Các vậy.

Chân Như: Các bạn nhận định thế nào về việc công an can thiệp vào chuyện thuê nhà của người dân ?

Hoàng Thành: Viêc công an can thiệp vào chuyện cư trú của người dân, điều ấy em nghĩ rằng dựa trên luật pháp thì hoàn toàn là sai bởi vì em biết được quyền của mình là quyền công dân, tức là quyền tự do cư trú. Ở trong điều 3 của quyền tự do cư trú đã nói rằng, công dân có quyền tự do cư trú  theo quy định của luật này và các quy định khác của luật có liên quan,  các công dân có đủ điều kiện đăng ký thường trú tạm trú và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú và tạm trú, tức là quyền tự do cư trú của công dân. Là công dân có quyền tự mình được chọn lựa quyết định nơi thường trú và cư trú của mình, thì việc công an can thiệp và gây áp lực cho chủ nhà để đuổi những người trực tiếp như em thì họ lại vô tình phạm vào điều 8 ở trong luật cư trú, tức là tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, môi giới, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về luật cư trú.  Họ cũng cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú của mình và chính họ cũng lạm dụng quy định về quyền hộ khẩu để hạn chế những quyền, lợi ích hợp pháp của công dân khi mà thực hiện quyền của mình.

Vương Các: Về góc độ cá nhân thì tôi nghĩ như thế này, trước tiên mình phải xác định là ai đang làm việc này vì nếu đứng từ góc độ bộ công an thì tôi nghĩ bộ công an họ sẽ không làm việc này; Đơn giản vì mình ở bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam này thì mình cũng sẽ chịu sự quản lý của bộ công an cho nên tôi nghĩ bộ công an họ không hành xử đối với những hoạt động này, mà vấn đề này tôi lại thiên về vấn đề ở chính quyền địa phương. Như  tôi đã nói tức là ở trên địa bàn phường họ không muốn mình ở trên đó vì họ sợ mình mang lại rắc rối cho chính họ. Tôi lấy ví dụ  nếu mà có cuộc biểu tình nào đó chuẩn bị xẩy ra thì tất nhiên ở trên bộ, công an thành phố họ sẽ tìm người đó hiện đang ở đâu và họ sẽ nhờ công an địa phương đó giám sát mình vào những ngày sắp tới những sự kiện biểu tình đó. Trong quá trình đó thì đòi hỏi công an phường phải huy động một lực lượng lớn để canh giữ mình hằng ngày, thậm chí cả đêm mà họ phải tiến hành người canh giữ.  Chính vì thế đối với những nhà hoạt động cho dân chủ và nhân quyền khi mà xuất hiện trên một địa bàn nào đó thì chính quyền địa phương không muốn vấn đề đó bởi vì họ muốn cho họ đỡ nhẹ đi phần nào tốt phần nấy. Chính vì thế nhận định của tôi trong vấn đề này là chủ yếu từ phía công an phường.

Chân Như: Và theo Văn Hóa phỏng đoán nguyên nhân gì khiến họ tạo sức ép buộc chủ nhà đuổi người cho thuê?

Văn Hóa: Theo suy nghĩ cá nhân của Hóa thì việc đầu tiên họ sẽ gây áp lực lên chủ làm của mình ví dụ nếu không nghe theo lời họ thì họ sẽ ép chủ không thể sản xuất được hàng hóa là thứ nhất, thứ hai là làm khó trong khâu kinh doanh, thứ ba là đánh thuế, sách nhiễu làm phiền đủ thứ; Đặc biệt là với các tư nhân ở Sài Gòn khu vực quận 12 đa số sản xuất quần áo. Tư nhân thì người ta đóng thuế rất ít nhưng đến khi không nghe theo lời phía trên kia xuống thì người ta sẽ đánh vào những cái giấy thủ tục hành chính rườm rà nói chung là gây khó dễ cho bên chủ việc làm trong khâu sản xuất và kinh doanh.

Chân Như: Khi nãy Hoàng Thành cũng chưa chia sẻ về việc phỏng đoán vì sao chính quyền địa phương lại tạo sức ép buộc chủ nhà phải đuổi người và điển hình là chính em.

Hoàng Thành: Cái thứ nhất là họ chưa hiểu những công việc của em đang làm, cụ thể là em đã tham gia vào những hoạt động xã hội. Đối với trong ngành của họ khi nghe đến những người hoạt động xã hội là họ ái ngại lắm. Em nhìn thấy biểu hiện của họ khi họ đối mặt trực tiếp với em, đặc biệt là anh Khánh, anh là công an khu vực ở đây. Điều thứ hai em phỏng đoán rằng, ở phường nào cũng có việc thi đua, rồi chạy thành tích thì đương nhiên khi mà họ chạy thành tích thì họ không muốn trong khu vực của họ có một vấn đề gì cả. Đặc biệt là những người ái ngại như em thì họ luôn muốn đẩy mình đi sang các khu vực khác để không ảnh hưởng đến công việc của họ. Công việc của họ thường chỉ đi khảo sát khu vực của mình và không muốn những chuyện liên quan đến an ninh mà việc em đã làm thì an ninh đã xuống tận phường sở tại nơi em đang ở và gây một số khó khăn cho những người làm việc ở phường như công an trưởng phường, công an phó phường, rồi trực tiếp tới công an khu vực. Đương nhiên trong việc này thì em phỏng đoán rằng là anh công an khu vực đó đã lường được những việc mà sắp tới nếu như em còn ở đây thì sẽ còn gây khó khăn cho anh ấy và anh ấy đã lạm dụng quyền để gây áp lực lên cho chủ nhà và đuổi em ra. Đó là phỏng đoán của em.

Xin cám ơn ba bạn Văn Hóa, Vương Các và Hoàng Thành đã dành thời gian đến với diễn đàn, rất tiếc thời gian có hạn nên chúng ta sẽ hẹn lại nhau vào kỳ sau để cùng tiếp tục bàn về vấn đề này.

Chân Như

(RFA)

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Công nhân Việt Nam và TPP

Công nhân Việt Nam (minh họa)
                                                  Công nhân Việt Nam (minh họa).  AFP

Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, TPP, giữa 12 quốc gia trong đó có Việt Nam vừa được kết thúc đàm phán hôm ngày 5 tháng 10 vừa qua. Một trong những điều kiện mà phía Việt Nam chấp nhận là thực thi những biện pháp bảo vệ quyền của công nhân lao động, mà một biện pháp cụ thể là cho lập công đoàn độc lập.

Thực tế giới công nhân tại Việt Nam có nghe biết gì về TPP và yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho họ như thế không? Ngoài ra những nhà hoạt động vì quyền công nhân nói gì về việc hình thành công đoàn độc lập theo qui định của TPP?

Khái niệm xa lạ!

Trong khi truyền thông nhà nước loan tin khá nhiều về kết quả đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương và những cơ hội cho Việt Nam khi tham gia một khối mậu dịch tự do lớn như thế; thì đa số những công nhân tại các tỉnh thành khi được hỏi về TPP đề tỏ ra ngơ ngác không biết gì.

Một nữ công nhân tại Quảng Nam cho biết cô đang làm việc cho một công ty tư nhân. Giờ làm việc từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều; và mỗi tuần tăng ca 5 ngày cho đến 8 giờ tối. Lương tháng được 3 triệu tám trăm ngàn đồng. Sau khi làm việc cô về nhà trọ nghỉ ngơi, chẳng có giờ để đọc báo; còn TV thì không có. Cô chỉ biết mỗi tháng đóng 10 ngàn tiền công đoàn phí; còn chuyện công đoàn có bảo vệ quyền lợi cho công nhân hay không thì cô không biết; và nếu thấy công việc đang làm quá nặng nhọc thì bỏ đi tìm nơi khác có mức lương cao hơn; chứ tại nơi cô làm lâu nay ở Quảng Nam chưa có chuyện công nhân đình công để đòi quyền lợi. Khái niệm TPP đối với cô hoàn toàn xa lạ vì chưa bao giờ được nghe đến:

“ Em cũng không biết nữa, khi mô tới hãy hay chứ giờ có biết gì đâu!”

Một nữ công nhân ở Nghệ An cũng cho biết hiện cô phải đóng một tháng 15 ngàn đồng tiền công đoàn phí; và tin tức về một công đoàn độc lập đối với cô cũng chưa bao giờ được nghe đến:

“ Lâu nay em không nghe nói gì hết! Em cũng không có gì để hiểu được vấn đề đó.”

Nhận thức của người lao động Việt Nam cũng nằm trong nhận thức chung của người dân Việt Nam; tức là họ vẫn rất mơ hồ thiếu hiểu biết về quyền con người trong đó có quyền của người lao động. Hiện nay nếu có biết chỉ biết đến công đoàn quốc doanh
LS Lê thị Công Nhân

Về tình trạng công nhân không biết tin tức liên quan việc thành lập công đoàn độc lập theo như yêu cầu của TPP, theo một nhà hoạt động cho người lao động Việt Nam, luật sư Lê thị Công Nhân thì đó là tình trạng chung ở Việt Nam, không riêng gì với người công nhân mà người dân nói chung cũng rất ít hiểu biết về quyền của họ. Luật sư Lê thị Công Nhân cho biết trong một cuộc trả lời phỏng vấn chúng tôi vào tháng 9 vừa qua sau khi gặp một chuyên viên cấp cao Ủy ban Tài chính- Kinh tế Quốc tế Thượng Viện Hoa Kỳ, ông Jim Greene:

“Nhận thức của người lao động Việt Nam cũng nằm trong nhận thức chung của người dân Việt Nam; tức là họ vẫn rất mơ hồ thiếu hiểu biết về quyền con người trong đó có quyền của người lao động. Hiện nay nếu có biết chỉ biết đến công đoàn quốc doanh.”

Phát biểu của chính quyền

Ngay sau khi kết thúc vòng đàm phán đúc kết TPP tại thành phố Atlanta, bang Georgia, Hoa Kỳ, người đại diện Việt Nam, bộ trưởng Vũ Huy Hoàng trong cuộc họp báo chung với những đại diện của các nước khác lên tiếng cho rằng lâu nay Việt Nam từng là thành viên của tổ chức Lao động Quốc tế ILO và những điều kiện về lao động đưa ra trong thỏa thuận TPP không phải chỉ riêng của Hoa Kỳ hay bất cứ nước nào mà là của ILO. Ông Vũ Huy Hoàng nói rằng Việt Nam là thành viên của ILO và cam kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ với các điều kiện của ILO. Ông nói thêm theo ông thì đó là cam kết và sự sẵn sàng mà Việt Nam sẽ thực hiện liên quan đến các vấn đề lao động.

Nhà hoạt động thuộc tổ chức Lao Động Việt, cô Đỗ Thị Minh Hạnh vào trưa ngày 7 tháng 10 trình bày ý kiến về phát biểu mà ông bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng đưa ra như thế:

“ Thực sự mà nói Việt Nam nằm trong tổ chức Liên đoàn Lao động Thế giới ILO, trong đó cũng có những qui định cụ thể về quyền lợi người lao động. Tuy nhiên trong thực thế chúng ta có thể thấy được những người lao động Việt Nam phải chịu đựng như thế nào qua những cuộc đình công, qua những bức xúc của công nhân mà công nhân không được cất lên tiếng nói… Vừa qua những chủ xưởng bỏ trốn, để lại công nhân chịu những thất thoát rất lớn, trong tình trạng ‘dở khóc, dở cười’.

Việt Nam không những ký những qui ước với quốc tế với tư cách thành viên ILO, WTO, mà họ che mắt thế giới về sự thật trong nước bằng ngôn từ, bằng những báo cáo ảo, nói với thế giới Việt Nam có công đoàn thực sự và quan tâm đến quyền và lợi ích của người lao động; nhưng thực tế không phải như vậy
cô Đỗ Thị Minh Hạnh

Việt Nam không những ký những qui ước với quốc tế với tư cách thành viên ILO, WTO, mà họ che mắt thế giới về sự thật trong nước bằng ngôn từ, bằng những báo cáo ảo, nói với thế giới Việt Nam có công đoàn thực sự và quan tâm đến quyền và lợi ích của người lao động; nhưng thực tế không phải như vậy. Tuy nhiên với TPP này phải có sự khác biệt đối với WTO trước đây. Trước đây hoạt động đấu tranh cho giai cấp công nhân không được quan tâm chú ý; khi đó Lao Động Việt cũng chưa hình thành. Lao động Việt được thành lập năm 2006 mà tiền thân là Ủy ban Bảo vệ Người Lao động cũng như Công đoàn Độc Lập do chị Lê thị Công Nhân và một số công đoàn do anh Đoàn Huy Chương lập ra nhưng mang tính chất nhỏ; nên Việt Nam vẫn che mắt được thế giới. Nhưng trong tiến trình TPP thì ở Việt Nam cũng đã có ý thức đấu tranh cho công nhân nhiều hơn, nên Việt Nam khó che giấu sự thật mà họ đối đãi với công nhân như thế nào. Nếu họ không thực hiện những cam kết của họ đối với thế giới thì những người đấu tranh trong nước, đặt biệt những người đấu tranh cho nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam chắc hẳn sẽ đưa những tin tức dối trá này ra với thế giới”.

Kết quả

Thực tế cho thấy trong thời gian qua có một số ít công nhân được tiếp xúc với những nhà hoạt động công đoàn độc lập cũng như tiếp cận được thông tin trên mạng, nên có ý thức về một tổ chức đại diện cho họ hoàn toàn độc lập không theo hệ thống công đoàn nhà nước như bấy lâu nay. Một công nhân tại Bình Dương từng phát biểu khi được hỏi về cách thức giúp bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người công nhân, thì người này khẳng định phải có một công đoàn độc lập:

“Tôi nghĩ phải tạo điều kiện để công nhân có công đoàn, nghiệp đoàn để ví dụ khi có chuyện gì, có bất công gì thì nghiệp đoàn đó đứng về phía họ. Phải có nghiệp đoàn độc lập. Công nhân phải biết đoàn kết, biết đòi hõi quyền lợi và biết tìm hiểu về pháp luật hơn; không thể cứ kệ họ muốn làm gì thì làm, xong việc thì về nhà. Như thế là tạo điều kiện cho họ, dung túng cho họ nhiều hơn”

Hai nữ công nhân ở Nghệ An và Quảng Nam vừa nói cũng cho rằng dù hiện họ chưa được nghe nói gì về công đoàn độc lập cũng như hầu như chưa quan tâm mấy đến vấn đề đó; thế nhưng nay khi nghe đến điều đó họ cũng mong mỏi Việt Nam tham gia vào với thế giới và bảo vệ quyền lợi cho người công nhân một cách đàng hoàng hơn.

Gia Minh

(RFA)

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2015

Ngô Nhân Dụng - Cần đấu tranh dân chủ, không cần xin 'hòa hợp dân tộc'

Trong bài trước, mục này đã bàn về bức thư “góp ý tâm huyết, thẳng thắn” với “Ban Chấp Hành Ðảng Bộ” đảng Cộng Sản ở thành phố Sài Gòn; trong đó 20 vị ký tên đã xác nhận Sài Gòn có địa vị dẫn đầu cả nước là nhờ thành phố này có một đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân một thời đã sống tương đối tự do trước năm 1975. Nhận định này là một “ý kiến phá rào” trong một chế độ vẫn tự xưng là “đỉnh cao trí tuệ” vì các tác giả dám nói thẳng rằng “Sài Gòn dẫn đầu cả nước.” Nhưng rất tiếc, ngay trong lúc phá một thứ hàng rào, các tác giả vẫn tự trói buộc bên trong những hàng rào cũ khác, không tự thoát ra ngoài. Một rào cản vẫn còn trói buộc cách suy nghĩ của họ; là bám lấy một khẩu hiệu tuyên truyền cũ kỹ, gọi là “hòa hợp dân tộc.”

Bức thư nhận xét về bản báo cáo chính trị của thành ủy, viết rằng: “Một trong những điều cần đặc biệt xem xét là trong báo cáo này hoàn toàn vắng bóng tư tưởng hòa hợp dân tộc,...” Trong đoạn sau, bức thư nhắc lại lần nữa: “chẳng có một câu, một chữ nào biểu tỏ tinh thần hòa hợp dân tộc.” Họ muốn đảng Cộng Sản cấp thành phố phải “hòa hợp dân tộc,” một vấn đề không thuộc thẩm quyền của một thành phố.

Nhưng lời kêu gọi này, dù gửi đến cấp trung ương, cũng hoàn toàn vô nghĩa. Ai sống ở miền Nam trước và sau năm 1975 đều biết khẩu hiệu “hòa giải, hòa hợp dân tộc” chỉ được dùng để tuyên truyền lừa dối; Ðảng Cộng Sản Việt Nam không bao giờ có thực tâm muốn hòa hợp với bất cứ ai. Bằng cớ, từ thời 1945, 46 là họ đã thủ tiêu những Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Huỳnh Phú Sổ, Phan Văn Hùm. Sau năm 1975, mấy trăm ngàn người vào “tù cải tạo,” hàng triệu người liều chết vượt biển tìm tự do là những bằng cớ khác. Ðối với người dân miền Nam, nhắc lại khẩu hiệu “hòa hợp dân tộc” cũng không khác gì nghe Sở Khanh rủ Thúy Kiều đi trốn... lần thứ hai!

Tiếp tục sử dụng một khẩu hiệu tuyên truyền 50 năm cũ chứng tỏ những người viết thư vừa thiếu sáng kiến vừa bám lấy quá khứ của chính họ không rời ra được. Nhắc lại khẩu hiệu đó chứng tỏ 20 vị ký bức thư “tâm huyết” không hiểu tâm trạng của người dân miền Nam. Không những thế, họ tỏ ra vô tình, tàn nhẫn, không thông cảm nỗi khổ đau của người miền Nam trong 40 năm qua.

Có lẽ chính các tác giả bức thư cũng cảm thấy lời hô hào của họ là vô nghĩa, vô duyên. Cho nên tỏ ra lúng túng khi nhắc đến khẩu hiệu đó. Bức thư viết rằng “...tư tưởng hòa hợp dân tộc (là) một đòi hỏi nóng bỏng để hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư, tạo nguồn động lực cho giai đoạn mới...” Các tác giả muốn “tạo nguồn động lực cho giai đoạn mới,” bằng cách sử dụng đội ngũ trí thức và chuyên gia miền Nam, kể cả những người đang sống ở nước ngoài; do đó có hy vọng “thu hút đầu tư.” Nhưng người đọc không thể hiểu tại sao một khẩu hiệu tuyên truyền thời 1970 đến năm nay lại trở thành một “đòi hỏi nóng bỏng để hội nhập quốc tế?” Hòa hợp dân tộc liên can gì đến hội nhập quốc tế mà nó lại được coi là vấn đề nóng bỏng?

Chỉ có thể tạm giải thích rằng quý vị soạn bức thư này dùng bốn chữ “hội nhập quốc tế” chỉ cốt nói đến chiều hướng “kết thân với Mỹ,” qua triển vọng thỏa ước Mậu dịch Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Ở Việt Nam hiện nay TPP là giấc mơ của những người theo dõi thời cuộc, cứ nêu ra là ý kiến nào nghe cũng lọt tai.

Tất nhiên, “hòa hợp dân tộc” bao giờ cũng là một mục tiêu tốt. Bất cứ dân tộc nào cũng nên “hòa hợp” với nhau, bất cứ lúc nào. Nhưng đem ghép nhu cầu “hội nhập quốc tế” với “tư tưởng hòa hợp dân tộc” thì quá gượng ép, hai ý tưởng, hai phạm vi không liên hệ gì với nhau. Hơn nữa, nêu khẩu hiệu này lên bây giờ thì không hợp thời nữa.

Khi bức thư kêu gọi đảng Cộng Sản Việt Nam (đại diện là Thành Ủy Sài Gòn) “hòa hợp dân tộc” để tạo “nguồn động lực cho giai đoạn mới,” các tác giả nhắm nêu ra một sự thật đau lòng không dám nói trắng ra. Ðọc thư, chúng ta hiểu điều họ muốn nói là “dân Sài Gòn” hiện vẫn bị đảng Cộng Sản kỳ thị. Nạn kỳ thị đã kéo dài hơn 40 năm!

Bức thư công nhận có “phân biệt đối xử.” Lại cảnh cáo rằng “sự phân biệt đối xử làm xói mòn sức dân.” Ðối tượng bị đối xử phân biệt là “những người dân bình thường vốn từng là công dân thành phố Sài Gòn trước 1975... và con cháu họ sinh ra và lớn lên trong thành phố từ sau 1975 cho đến nay và bà con, họ hàng của họ đang sống ở nước ngoài...” Bức thư nhấn mạnh “các công dân Sài Gòn trước 1975,” cùng với “con cháu họ sinh ra sau 1975.” Họ giải thích rằng thành phần này không phải là những người từ R hay tập kết trở về hay những người từ Miền Bắc vào sau 1975.

Lời kêu gọi chấm dứt cảnh đối xử phân biệt này xác nhận một sự thật mà đảng Cộng Sản vẫn che giấu: Từ năm 1975 đến nay đảng Cộng Sản vẫn kỳ thị, không những đối với dân Sài Gòn mà với tất cả người miền Nam đã sống dưới chế độ Cộng Hòa.

Nhưng muốn chấm dứt tình trạng phân biệt đối xử này thì kêu gọi “hòa hợp dân tộc” không đủ. Trước hết, những người từng đối nghịch với đảng Cộng Sản, những người mà đảng Cộng Sản từng dụ dỗ bằng chiêu bài hòa giải hòa hợp, hiện nay phần lớn đã trên dưới 70 tuổi rồi. Lớp người này này họ không tin bất cứ khẩu hiệu nào do Cộng Sản đưa ra. Họ cũng không thể trở thành “nguồn động lực cho giai đoạn mới,” có hô hào cũng vô ích.

Chỉ những bạn trẻ dưới 55 tuổi mới hy vọng tạo nên nguồn động lực mới. Các tác giả bức thư góp ý biết rõ điều này. Họ muốn thúc đẩy đảng Cộng Sản hãy sử dụng những người dân Sài Gòn thuộc lớp tuổi 25 đến 55, dù đó là con cháu của các công dân Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Lớp người đó có thể thành “đội ngũ trí thức và doanh nhân” trong giai đoạn phát triển sắp tới, nếu họ không bị kỳ thị.

Nhưng chính sách kỳ thị của đảng Cộng Sản không giới hạn trong một thành phố Sài Gòn hay riêng tại miền Nam Việt Nam. Bản chất chế độ Cộng Sản là kỳ thị. Tại Nam Phi trước đây chế độ “apartheid” phân biệt mầu da trắng, đen. Xã hội Cộng Sản cũng phân biệt hai loại công dân: Các đảng viên Cộng Sản là “da trắng;” tất cả những người ngoài đảng là “da đen.” Ở miền Nam Việt Nam, mức độ kỳ thị nhân lên gấp đôi. Các đảng viên Bắc da trắng hơn đảng viên gốc miền Nam; dân miền Nam thì đen hơn dân gốc Bắc vào sau 1975!

Lá thư góp ý kêu gọi chính quyền thành phố Sài Gòn phải “hòa hợp” với những công dân còn đang bị đối xử phân biệt: “Làm sao để những công dân thành phố đó hiểu được rằng, và tin được rằng, họ cũng nằm trong “thế trận lòng dân,” cũng là nền tảng của sự “ổn định chính trị.” Lời kêu gọi này chứng tỏ các tác giả có thiện chí; nhưng chính sách kỳ thị của đảng Cộng Sản được áp dụng trên cả nước, đảng bộ tại thành phố Sài Gòn không có quyền thay đổi. Cho nên kêu gọi họ “hòa hợp dân tộc” là điều vô ích. Ngược lại, nêu lên một khẩu hiệu cũ kỹ đó trong lúc này chỉ che lấp các vấn đề quan trọng khác.

Vấn đề quan trọng nhất bây giờ là trả lại các quyền tự do cho dân Việt Nam được tham dự vào việc quản lý đất nước. Ðảng Cộng Sản đã cướp quyền, tiếm vị từ hơn nửa thế kỷ nay, dùng bộ máy công an tước đoạt hết mọi quyền tự do của người dân từ Bắc vào Nam.

Khi nào tất cả mọi người dân Việt được hưởng các quyền tự do hội họp, tự do phát biểu, tự do bàu cử và tranh cử, thì chính các nạn nhân của chính sách kỳ thị ở Sài Gòn sẽ biết cách tranh đấu để họ không còn bị đối xử phân biệt nữa. Những người đang bị đối xử phân biệt phải đấu tranh đòi tự do dân chủ cho toàn dân, chứ không cần lo cho quyền lợi riêng của họ. Nhất là họ không cần “năn nỉ, cầu xin” ai ban ơn ngưng chính sách kỳ thị.

Nếu người dân Việt được tự do phát biểu, tự do hội họp và tự do bỏ phiếu, thì mọi chính quyền chủ trương kỳ thị sẽ bị người dân gạt bỏ bằng lá phiếu. Chủ trương đối xử phân biệt là hậu quả của chế độ độc tài đảng trị. Khi chế độ độc tài chấm dứt, người dân Việt Nam được phục hồi quyền sống làm người sẽ biết cách cư xử hòa hợp với nhau mà không cần chờ chủ trương, mệnh lệnh của một nhóm tiếm vị độc quyền nào cả.

Ngô Nhân Dụng

Người Việt)

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

Trương Duy Nhất - Biểu dương tôi đi, sao lại kết tội?

tdn truoc toa

    “Đảng cần coi trọng thực sự vấn đề giám sát và phản biện xã hội. Tôi thấy tiếc vì không còn được làm, thực sự tôi tâm huyết với vấn đề này. Không có dân thì làm sao chống được tham nhũng, hạn chế được sự suy thoái trong đảng? Tôi rất suy nghĩ hệ thống đại hội thi đua yêu nước vừa qua tổng kết các tổ chức kể cả chính trị- xã hội, kể cả của các đơn vị, tôi chưa thấy ở nơi nào tôi vinh đối với những người chống tham nhũng, tiêu cực. Chúng ta cứ nói nhiều đến các vấn đề khác nhưng có một vấn đề không quan tâm là phải biểu dương những điển hình đương đầu với những suy thoái trong xã hội. Vì vậy, chúng ta cần coi trọng sự vào cuộc của người dân, cần phải khen thưởng thỏa đáng những người dân dũng cảm trong chống tham nhũng và suy thoái, thực sự coi trọng và phát huy vai trò của người dân”- Cựu Uỷ viên, thường trực Bộ Chính trị, cựu Chủ tịch Uỷ ban trung ương MTTQ Việt Nam Phạm Thế Duyệt (nguồn: VOV)

“Biểu dương các điển hình đương đầu với những suy thoái trong xã hội”. Tôi đã nói điều này trước cả hai phiên toà sơ và phúc thẩm. Chiểu theo tinh thần này, đảng (Cộng sản), nhà nước và chính phủ nên kịp thời có hình thức biểu dương, khen thưởng những người như tôi (Trương Duy Nhất), chứ sao lại kết tội tôi?

Đảng, nhà nước, chính phủ hay thậm chí cả mặt trận chưa hoặc không dám làm, không làm được, thì một ông, cá nhân một ai đó, “đồng chí X” nào đó, chỉ cần một thôi, trong cái bộ máy tột đỉnh quyền lực kia dám lên tiếng, dám biểu dương Trương Duy Nhất?

Trương Duy Nhất

(Một Góc Nhìn Khác Blog)

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Người Thượng VN tiếp tục trốn sang Campuchia

thuong-3-622.jpg
Những người Thượng vừa trốn sang Campuchia ngày 29 tháng 9 năm 2015, hiện đang ở một nơi gần Phnom Penh. RFA PHOTO/Sơn Trung

Hôm 29 tháng 9 vừa qua, thêm một nhóm người Thượng trốn sang Campuchia mong tìm sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế để thoát khỏi tình trạng mà họ cho là sự sách nhiễu, đàn áp của chính quyền Việt Nam đối với họ.

Nhóm người Thượng này gồm 9 người đàn ông, trong đó có 7 người Jarai và 2 người Bahnar. Những người này rời khỏi nơi cư trú ở huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai hồi ngày 23 tháng 9, sau nhiều ngày trong rừng, đến ngày 28 tháng 9 thì họ đi vào lãnh thổ Campuchia và tìm gặp được đại diện Liên Hiệp Quốc phụ trách về người tỵ nạn vào ngày 29 tháng 9 năm 2015.

Không thể ở Việt Nam vì sách nhiễu
    Nó gửi giấy mời cho mình luôn, nếu nó mời mà mình không đi là nó bắt. Nó mời là nó nhòm (theo dõi), nó không cho. Nó nhòm một gia đình là anh em một ruột (những người từng bị bắt chung) mình vô nhà là nó không cho nữa. Nó vô nó nói là nhòm rồi là nó phải bắt. Có đánh có đập đó.
    -Một người Thượng

Hồi ngày 2 tháng 10 năm 2015, Sơn Trung của đài Á Châu Tự Do đã gặp trực tiếp nhóm người Thượng này tại một địa điểm gần Thủ đô Phnom Penh. Trao đổi với chúng tôi, những người này cho biết họ theo một chi phái Tin Lành và giáo phái này không được chính quyền Việt Nam thừa nhận. Cũng chính vì lý do đó mà chính quyền liên tục cấm đoán không cho họ tập trung thực hiện các nghi thức tôn giáo.

Một người Thượng, hơn 40 tuổi kể: “Tổ chức Montagnard Sang Pơpŭ Ana-Čư là nó không cho phép, nó đuổi đánh đập hay bắt mình đi tù. Nó không cho phép mình họp, không cho phép, nó phải đánh mình, nó mời mình tới xã. Nó tới nhà mình nó bắt, nếu mình tự làm (thực hiện nghi thức tôn giáo) trong gia đình mình (thì không bị bắt),nếu mình tổ chức bằng nhau (tập trung nhiều gia đình) là nó sẽ bắt phải đi tù. Bắt nhiều lắm, tập trung ba bốn năm người là nó bắt”.

thuong-1-400.jpg
Một người Thượng với giấy công an triệu tập, vừa trốn sang Campuchia ngày 29 tháng 9 năm 2015, hiện đang ở một nơi gần Phnom Penh. RFA PHOTO/Sơn Trung.

Cũng theo lời kể của những người này thì hồi năm 2004, nhiều người Thượng theo giáo phái Sang Pơpŭ Ana-Čư ở tỉnh Gia Lai bị bắt và chịu án tù từ 4 đến 6 năm về tội danh “Chống phá chính sách đoàn kết dân tộc”. Sau khi về địa phương, những người này liên tục bị công an điều tra, theo dõi. Một người Thượng, 54 tuổi, bị chính quyền Việt Nam giam giữ tại nhà tù Thanh Hóa từ năm 2004 đến năm 2007 cho biết sau khi ra tù, ông bị chính quyền gửi giấy mời lên tục để uy hiếp tình thần. Ông này chia sẻ:

“Nó gửi giấy mời cho mình luôn, nếu nó mời mà mình không đi là nó bắt. Nó mời là nó nhòm (theo dõi), nó không cho. Nó nhòm một gia đình là anh em một ruột (những người từng bị bắt chung) mình vô nhà là nó không cho nữa. Nó vô nó nói là nhòm rồi là nó phải bắt. Có đánh có đập đó. Nó nói hai ba lần mà mình không nghe là nó đánh nó đập. Lúc nào mình đi làm ruộng làm rẫy là nó hỏi sáng này mày đi đâu? Tôi nói đi làm ruộng. Nó theo dõi miết mà. Tôi chịu không nỗi, tôi phải đi thôi.”

Đi đâu cũng được miễn được sống

Tiếp xúc với chúng tôi, chín người vừa trốn chạy này cho biết họ không chủ ý đến định cư tại Campuchia hay bất kỳ một nước nào khác. Họ chạy trốn sang Campuchia chỉ mong được cộng đồng quốc tế cứu giúp, hỗ trợ một nơi ở tự do và an toàn hơn Việt Nam:

“Yêu cầu giúp đỡ anh em chúng tôi để được sống. Đến đây là không phải chúng tôi muốn đến. Chúng tôi không muốn đến đâu, do người ta đàn áp nên phải ở đây. Nếu Việt Nam không đàn áp thì mình phải ở quê hương, chăm sóc lo cho con cái. Còn đây, mình phải bỏ con cái, nhà ở, mình phải trốn sang đây do người ta đàn áp mình. Mình qua đây để yêu cầu UN (Liên Hiệp Quốc) giúp đỡ, cứu sống chúng tôi.”

    Yêu cầu giúp đỡ anh em chúng tôi để được sống. Đến đây là không phải chúng tôi muốn đến. Chúng tôi không muốn đến đâu, do người ta đàn áp nên phải ở đây. Nếu Việt Nam không đàn áp thì mình phải ở quê hương, chăm sóc lo cho con cái.
    -Một người Thượng

Đại diện Liên Hiệp Quốc phụ trách vấn đề Nhân quyền và Người Tỵ nạn vẫn chưa có động thái gì ngoài việc xắp xếp cho 9 người này ở một nhà nghỉ gần Phnom Penh. Khi được hỏi nếu không được giúp đỡ thì họ có về Việt Nam hay không, một người đàn ông khoảng 50 tuổi chia sẻ:

“Tôi ở Việt Nam không sống được. Chúng tôi ở Việt Nam theo đạo nó không cho phép. Nếu theo đạo là nó bắt mình, đánh mình, đập mình, đem bỏ tù. Mình rất sợ. Mình sang đất Campuchia này, mình rất lo lắng. Lo cho con mình, lo cho vợ mình. Mình tức lắm. Mình bỏ vợ con mình, mình tức lắm. Người Việt Nam chơi ác lắm, chơi ác với dân tộc mình lắm. Mình buồn lắm. Qua đây, mình muốn bạn Campuchia giúp đỡ cho chúng tôi sống ở đây thôi, không dám về nữa.”

Theo thông tin chúng tôi nhận được từ người Jarai Campuchia hồi sáng ngày 3 tháng 10 năm 2015, vợ của 4 trong số 9 người Thượng này đã bị cộng an huyện Đăk Đoa triệu tập và bắt tạm giam:

“Bà con chúng tôi ở Việt Nam cho biết là có bốn người vợ bị bắt lên huyện rồi. Nếu mà không ai giúp đỡ để họ về Việt Nam thì chắc chắn họ sẽ bị bắt, bị đánh đập. Xin báo chí, các tổ chức bảo vệ nhân quyền cứu giúp họ.”

Tính từ cuối năm 2014 đến nay đã có hơn 200 người Thượng từ Việt Nam trốn sang hiện đang sống ở Phnom Penh dưới sự bảo trợ của Văn phòng Nhân quyền và Văn phòng người Tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc, tuy nhiên hiện chỉ có 13 người trong số này được Cục Người tỵ nạn của Campuchia chấp nhận đưa vào danh sách người tỵ nạn.

Mới đây, ông Khieu Sopheak, người phát ngôn bộ Nội vụ Campuchia cho biết, Campuchia dành cho Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người Tỵ nạn ba tháng để giải quyết đưa 13 người Thượng này đến quốc gia thứ ba, nếu không thì Campuchia sẻ trả họ về Việt Nam.

Các tổ chức bảo vệ nhân quyền của Campuchia và quốc tế cho rằng thông báo này của chính quyền Campuchia có thể chịu sức ép từ phía Việt Nam. Riêng ông Our Virak, nhà nghiên cứu xã hội và nhân quyền của Campuchia thì cho rằng việc Việt Nam ra sức ép buộc Campuchia trục xuất người Thượng tỵ nạn là một hành vi đáng xấu hổ của chính quyền cộng sản Hà Nội.

Ông Our Virak: “Tôi thấy Việt Nam phải hổ thẹn vì người dân ở nước mình đi tỵ nạn, điều này chứng tỏ Việt Nam không an toàn cho chính người dân của mình. Cũng chính vì điều này mà Việt Nam đã gây sức ép buộc Campuchia trục xuất những người Thượng này cũng như tìm mọi cách ngăn chặn không cho họ tiếp tục chạy trốn để xin tỵ nạn.”

Hồi năm 2004, một cuộc biểu tình lớn đòi quyền tự do của người Thượng ở Tây Nguyên đã bị dập tắt, sau đó xảy ra nhiều đợt người vượt biên sang Campuchia để tránh sự truy bắt và sách nhiễu của chính quyền Việt Nam.

Sơn Trung, tường trình từ Campuchia.

(RFA)