Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Người Trung Quốc viết về nạn diệt chủng của Khmer Đỏ

Lời giới thiệu của Dịch giả: Trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày chính quyền Campuchia Dân chủ của Khmer Đỏ sụp đổ (4-1978), nhiều báo mạng Trung Quốc đăng bài viết về cuộc diệt chủng xảy ra dưới chính quyền này. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một bài có đầu đề “Vén bức màn bí mật về cuộc đại tàn sát do Khmer Đỏ tiến hành nhân danh cách mạng” (không thấy ghi tên tác giả). Vì bài rất dài nên chúng tôi lược bỏ một số đoạn không cần thiết lắm nhưng có chú thích, các đoạn còn lại thì dịch nguyên văn để bạn đọc hiểu chính xác ý tác giả.

Khmer Đỏ tiếp quản Phnom Penh

Ba mươi năm trước đây chính quyền Campuchia Dân chủ do Khmer Đỏ xây dựng bị lật đổ bởi 10 vạn đại quân Việt Nam và bởi bộ đội của mình quay súng chống lại. Sau đó các tài liệu liên quan tới lịch sử  đẫm máu của chính quyền này dần dần được công bố, chủ yếu thấy trong lời kể của những người dân Campuchia tị nạn, phỏng vấn của các nhà báo phương Tây, điều tra của các học giả, và các tài liệu do chính phủ Việt Nam và chính phủ mới của Campuchia do Việt Nam nâng đỡ chỉnh lý và công bố.

Nhưng việc ghi chép lịch sử liên quan tới Khmer Đỏ bị hạn chế bởi nhiều nhân tố, chủ yếu do tính che giấu của các chính sách do Khmer Đỏ ấn định và thực thi, do tình trạng đóng cửa với bên ngoài của nhà nước khi họ nắm chính quyền, và do tuổi thọ của chính quyền này quá ngắn ngủi, chưa hề xây dựng được một bộ hồ sơ có hệ thống. Song song với đó, sự thiếu tài liệu và các khó khăn về mặt nghiên cứu do nó gây ra, từ một góc độ đặc biệt, đã phản ánh đặc điểm của cách mạng Campuchia: nó như một trận cuồng phong sau khi tràn qua không để lại bất cứ dấu vết nào rõ ràng để có thể tìm kiếm, ngoại trừ đống đổ nát.

Nhưng việc chờ đợi bổ sung hoặc tăng cường các quá trình và chi tiết về cuộc cách mạng đó không ngăn trở chúng ta đưa ra các phán đoán đối với hậu quả của cuộc cách mạng này: đây là một cuộc đại tàn sát dân tộc và chủng tộc với mục đích tái cơ cấu xã hội. Gọi tàn sát dân tộc là căn cứ vào tổng số người bị chết trong thời kỳ Khmer Đỏ thống trị 1975-1978; tuy nhiên cho tới nay trên vấn đề này vẫn có các ước tính khác nhau, từ con số bảo thủ 40 vạn cho tới con số khuếch đại 3 triệu người. Nhìn chung người ta cho rằng một triệu là con số có thể chấp nhận được. Thế nhưng đối với một nước nhỏ hồi ấy có dân số từ 7 đến 8 triệu người thì cho dù 1 triệu cũng là con số khó có thể tưởng tượng, nó vượt xa quy mô những cuộc thanh toán và đàn áp chính trị sau khi xây dựng chính quyền mới tại nhiều quốc gia. Bởi vậy học giả Pháp Jean Lacouture gọi giai đoạn lịch sử này của Campuchia là “cuộc tự diệt chủng” (auto-genocide). Tàn sát chủng tộc là nói toàn bộ 2 vạn người gốc Việt Nam ở Campuchia bị chết, 43 vạn người gốc Hoa thì chết 21,5 vạn, 1 vạn người gốc Lào chết 4.000 người, 2 vạn người gốc Thái chết 8.000 người, 25 vạn tín đồ Islam (Cham) chết 9 vạn người — những con số này đều vượt quá tỷ lệ tương ứng người Khmer bị chết.

Cần nhấn mạnh : việc điều tra cuộc đại tàn sát của Khmer Đỏ mới đầu là do giới báo chí truyền thông phương Tây và học giả phương Tây thực hiện, phần lớn các xuất bản phẩm liên quan đề tài này hiện nay cũng đến từ phương Tây. Không những thế, các nước phương Tây còn cực lực chủ trương để một tòa án quốc tế đứng ra xét xử Khmer Đỏ. Nếu có ai cho rằng điều đó phản ánh thành kiến lệch lạc về hình thái ý thức của phương Tây (thí dụ tư duy chiến tranh lạnh, tâm trạng hậu thực dân hoặc bá quyền quốc tế), thì tác giả bài này mong rằng quan điểm ấy không đến nỗi phát triển tới mức có sự nghi ngờ đối với sự thật cơ bản này của cuộc đại tàn sát.

(Bỏ không dịch 1 đoạn nói về những ý kiến bất đồng ở phương Tây trong đánh giá Khmer Đỏ, và 1 đoạn tác giả cho rằng nên xét tới hậu quả việc Mỹ ném bom đại trà Campuchia sau 1975 làm chết 3-25 vạn người và làm nhiều nông dân đổ vào thành thị).

1. Các yếu tố cấu thành cuộc đại tàn sát

Sở dĩ trong 4 năm 1975-1979 tại Campuchia xảy ra sự giết chóc quy mô như thế là do mấy nhân tố dưới đây cấu thành: Thứ nhất, cuộc di dân cưỡng chế với quy mô lớn. Tháng 4-1975, Khmer Đỏ giành chính quyền tiến vào các đô thị, sau đấy trong thời gian từ 3 ngày đến một tuần họ cưỡng chế toàn bộ dân đi khỏi các đô thị, dùng súng áp tải đưa về nông thôn. Vì công tác này hoàn toàn không có sự chuẩn bị tương ứng về vật chất, thậm chí cũng chưa xác định mục tiêu cuối cùng là gì, cho nên phần lớn người già yếu, đàn bà con trẻ đã chết vì đói khát, ốm đau và mệt nhọc. Ngoài ra là do sự tàn sát có kế hoạch trong quá trình di chuyển ấy đối với những người không phục tùng sự di chuyển và với người khác mình (nguyên văn dị kỉ phần tử) (gồm những người không phải dân Khmer và các tín đồ Phật giáo).

Thứ hai, thanh toán và đàn áp chính trị. Đây là nhằm vào các nhân viên quân sự, hành chính của chính quyền Lon Nol, gồm binh sĩ, cảnh sát và công chức, kể cả các thành viên Hoàng gia trước cuộc đảo chính của Lon Nol (hồi đó trên danh nghĩa họ còn thuộc Mặt trận Liên hiệp dân tộc). Nói chung, mô thức hành quyết là dùng xe tải chở những người này đến một địa điểm nào đấy rồi dùng gậy đập đến chết hoặc trực tiếp bắn chết.

Thứ ba, lao động thể lực cường độ cao. Những người còn sống sót trong cuộc di tản đi khỏi đô thị thường bị buộc cùng nông dân làm những việc như đào mương, làm ruộng, làm đường. Do tình hình kinh tế xấu đi, do thiếu lương thực và những thứ cần dùng cho đời sống nên rất nhiều người đã chết dưới sự lao động cưỡng chế đó.

Thứ tư, thanh lọc nội bộ. Khmer Đỏ vừa lập quốc xong là bắt đầu cuộc thanh lọc nội bộ với cái cớ dọn sạch những người thân Việt Nam, các gián điệp của KGB, đặc vụ của CIA và những người khác mình mới chui vào trong Đảng. Trong số 13 người lãnh đạo Mặt trận Dân tộc công bố danh sách hồi tháng 10-1975 có 5 người bị hành quyết trong đợt thanh lọc năm 1977, gồm bộ trưởng Bộ Nội vụ, 2 bộ trưởng Bộ Thương mại, bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch Nhà nước … Số người lãnh đạo Đảng, chính quyền và quân đội các đại khu bị hành quyết càng nhiều hơn. Đợt tập trung nhất là đợt thanh lọc năm 1978 nhằm vào cán bộ và quân nhân các đại khu miền Đông bị coi là phái thân Việt Nam. Đợt thanh lọc này do Tà Mốc người lãnh đạo đại khu Tây Nam phụ trách, trong một lần đã giết gần 10 vạn người Khmer Đỏ của mình. Ngoài ra còn xây dựng Trung tâm Thẩm vấn tại một trường trung học ở phía Nam Phnom Penh, có ký hiệu S21, chủ yếu dùng để thẩm vấn, tra tấn và hành quyết kẻ địch trong Đảng. Ước tính Trung tâm này đã hành quyết 2 vạn người.

2. Mục tiêu của Khmer Đỏ: vượt qua Lênin và Mao Trạch Đông

Điểm khác biệt với các cuộc đại tàn sát khác trong thế kỷ XX là cuộc đại tàn sát của Khmer Đỏ không phải là để giải quyết sự xung đột chủng tộc, bộ lạc hoặc tôn giáo, mà là nhằm triệt để tái cơ cấu xã hội. Kiểu triệt để tái cơ cấu này diễn ra sau khi Khmer Đỏ đã hấp thụ các kinh nghiệm của phong trào cộng sản quốc tế, họ có ý định ngay khi cách mạng vừa mới thắng lợi xong bèn một lần hành động là giải quyết xong tuốt tất cả các vấn đề hiện thực và các vấn đề từng được lịch sử nước khác chứng minh là sẽ nảy sinh, xây dựng một xã hội XHCN thuần túy hơn Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam. Nhằm đạt mục đích đó, họ từ chối thử tiến hành bất kỳ phương pháp cải tạo hòa bình hoặc giáo dục thuyết phục nào, họ thủ tiêu bất cứ thời kỳ quá độ nào và chọn một con đường trực tiếp giản đơn nhất: ngay từ đầu dùng bạo lực để tiêu diệt với quy mô lớn và có tổ chức một bộ phận dân chúng, qua đó đạt được sự cải tạo xã hội.

Thế nhưng con đường đó chưa hề trải qua sự chuẩn bị lâu dài trước và sự chuẩn bị về lý luận, mà hình thành vội vàng trong có hai năm ngắn ngủi. Từ các văn kiện do những người lãnh đạo Khmer Đỏ thời kỳ đầu lưu lại, như văn kiện Paris hồi du học tại Pháp của Khieu Samphan và Ieng Sary, bài “Chế độ dân chủ hay là chế độ quân chủ?” của Pol Pot viết hồi thập niên 50, cho tới các tài liệu của hai đợt học tập chỉnh phong trong Đảng năm 1970 và 1971, chúng ta đều không thấy có bất cứ sự bố trí hoặc ám thị nào về cuộc cải tạo xã hội một cách hệ thống và đẫm máu sau khi giành chính quyền; trên cơ bản chỉ lặp lại cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ mà đảng của Trung Quốc và Việt Nam đã thực hiện.

Từ tháng 5-1973, tại một số vùng do đảng Cộng sản Campuchia kiểm soát bắt đầu tiến hành phong trào tập thể hóa nông nghiệp. Như thế rõ ràng đã vượt qua cái hồi ấy gọi là tính chất dân tộc dân chủ của cuộc cách mạng. Các biện pháp thực hiện gồm:

- tiến hành di chuyển dân nông thôn trên một quy mô nhất định;

- cưỡng chế tập trung dân vào các vùng do Đảng Cộng sản Campuchia kiểm soát để tham gia hợp tác hóa, vì để cưỡng chế di dân mà thậm chí phóng hỏa đốt làng xóm cũ của họ;

- đóng cửa các chùa chiền Phật giáo, cưỡng bức sư sãi tham gia lao động nông thôn;

- thực hành chế độ trang phục thống nhất, tất cả mọi người đều mặc quần áo nông dân màu đen;

- thực hành chế độ nhà ăn tập thể ở nông thôn v.v..

Xét về diễn biến lịch sử, năm 1973 là điểm ngoặt của cách mạng Campuchia. Tầng lớp lãnh đạo đảng Cộng sản Campuchia vứt bỏ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ tiệm tiến, lấy sự quá độ trực tiếp bắt đầu thực hành ở vùng nông thôn do họ kiểm soát làm khởi điểm, ấn định một cương lĩnh dùng bạo lực để triệt để cải tạo xã hội trong thời gian ngắn nhất. Nhưng so với đảng Cộng sản Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam thì đảng Cộng sản Campuchia trước khi nắm chính quyền chẳng những không có một thời kỳ phát triển tương đối dài và độc lập, mà lại càng không có một quá trình phân tích lý luận, thảo luận thậm chí tranh luận tương đối đầy đủ đối với đất nước và xã hội mình. Đứng trước thời cơ mau chóng nắm được chính quyền (do Mỹ rút khỏi Đông Dương), trình độ lý luận và kinh nghiệm chính trị của toàn đảng còn xa vẫn chưa đạt được trình độ của các đảng lớn khác khi giành chính quyền. Một nhà nghiên cứu nói: sự kiện Campuchia thể hiện hố sâu ngăn cách giữa thứ lý luận cực kỳ thô ráp với cuộc thực nghiệm ở quy mô quốc gia. Khmer Đỏ là một thể chế vội vã xây dựng nên, “vội vã tới mức căn bản không có thời gian tìm hiểu và quan tâm tới xã hội Campuchia, toàn bộ những gì tồn tại trước thể chế này đều phải bị hủy diệt hoặc ít nhất bị triệt để cải tạo”.

Nhưng điều châm biếm của lịch sử là một đảng thiếu chuẩn bị nhất về nắm chính quyền lại đưa ra một cương lĩnh cách mạng nhất, vượt qua mọi cuộc cách mạng khác; như Ieng Sary nhân vật số 2 của đảng Cộng sản Campuchia nói năm 1977: “Cuộc thử nghiệm cách mạng Campuchia không có bất kỳ mô hình sẵn có nào. Chúng ta đang làm những việc trong lịch sử không có tiền lệ; mô hình Trung Quốc, mô hình Việt Nam đều không thích hợp dùng cho chúng ta.”

Tháng 9-1975, một số nhà trí thức Campuchia học ở nước ngoài về có nhìn thấy khẩu hiệu “Angkar[1] vượt qua Lênin, vượt qua Mao Trạch Đông”. Một cán bộ cấp cao phụ trách đón tiếp họ đã giới thiệu: Tính chất đặc biệt của cách mạng Campuchia là rút hết dân ra khỏi thành phố và xóa bỏ tiền tệ. Ông này nói: Mao Trạch Đông từng nói cần tiến hành cách mạng văn hóa nhiều lần nữa nhưng cuối cùng thì ngừng lại, còn chúng tôi ngày nào cũng làm cách mạng văn hóa. Ông đặc biệt nhắc tới việc Trung Quốc vẫn dùng tiền tệ, tư nhân vẫn có thể nuôi gà vịt — những chuyện ấy không có tại Campuchia. Các chuyên gia Trung Quốc ở Campuchia bị coi là đã biến thành “xét lại”, vì họ không những có lĩnh lương mà khi về Trung Quốc còn dùng tiền dành dụm để mua đồ điện hoặc máy khâu ở hải quan đem về nước. Có lần chuyên gia Trung Quốc hỏi người Campuchia là cái đập nước mới xây dựng này chi phí hết bao nhiêu tiền, thì người Campuchia nửa bất mãn nửa tự hào trả lời: “Đập nước này do nhân dân xây dựng. Nước chúng tôi không dùng tiền.” Nhất là người Trung Quốc (người Việt Nam cũng thế) vẫn nhà nào ăn cơm nhà nấy, còn ở Campuchia trước khi cách mạng thành công đã thực hiện chế độ nhà ăn tập thể ở vùng do Khmer Đỏ kiểm soát.

Dựa vào sự so sánh ấy, cán bộ Campuchia cho rằng “Chế độ của chúng tôi ưu việt hơn chế độ của người Trung Quốc”. Có thể nhận xét đảng Cộng sản Campuchia đã rút ra bài học gọi là “hữu” trong phong trào cộng sản quốc tế, muốn ngay từ khi vừa mới nắm chính quyền đã lập tức giải quyết triệt để mọi vấn đề mà Trung Quốc tả nhất hồi ấy còn chưa giải quyết, không những “nhảy qua giai đoạn quá độ để lập tức tiến lên chủ nghĩa xã hội”,[2] mà còn tiến ngay sang chủ nghĩa cộng sản, qua đó xây dựng cho Thái Lan, Indonesia và Miến Điện một mô hình khác với Trung Quốc, Việt Nam (hồi ấy Campuchia cho rằng tình thế cách mạng Đông Nam Á đã chín muồi, Campuchia sẽ trở thành một trung tâm mới của Đông Nam Á). Đó là cái gọi là “đặc sắc Campuchia”.

Đây là mô hình triệt để tái cơ cấu xã hội ngay từ ngày đầu tiên cách mạng thắng lợi. Mô hình đó bắt đầu thực hiện từ ngày 17-4-1975 (ngày Khmer Đỏ tiến vào Phnom Penh) bằng cuộc đại di dân các thành phố. Những lý do mà hồi ấy Khmer Đỏ tuyên bố với dân thành phố và nạn dân là: – Mỹ có thể ném bom các thành phố; – các thành phố thiếu lương thực. Đó là sự giải thích chính thức của chính quyền Khmer Đỏ. Cho tới tháng 9-1977 Pol Pot mới thừa nhận việc rút dân ra khỏi các thành phố là do “nguyên nhân an ninh”, tức là nhằm để triệt phá hết căn cứ địa hoạt động của các tổ chức phản cách mạng. Quyết định rút dân ấy ra đời hai tháng trước khi Khmer Đỏ tiến vào thành phố, song lại giữ bí mật cả với các cán bộ cấp khá cao. Việc giữ bí mật đó đã làm cho cuộc đại di chuyển 2 triệu dân hoàn toàn không có chuẩn bị trước; vì thế mấy chục vạn dân bị chết là điều tất nhiên.

Ngày 20-5-1975 (một tháng sau khi Khmer Đỏ tiến vào thành phố), tại Phnom Penh có tổ chức cuộc họp toàn thể cán bộ cấp cao Khmer Đỏ. Tại cuộc họp, lần đầu tiên người ta công bố các chính sách của Trung ương sau khi tiến vào thành phố. Cuộc họp này không lưu lại bất kỳ văn bản nào (ít nhất tới nay chưa phát hiện). Ngày nay sở dĩ biết được nội dung cuộc họp ấy chủ yếu dựa vào lời kể của những người dự họp, nhất là hồi ức của những người sau này cắt đứt với Khmer Đỏ như Heng Samrin (nguyên tướng lĩnh Khmer Đỏ, sau đi theo Việt Nam và trở thành người lãnh đạo chính quyền mới xây dựng năm 1979), sau đó chắp nối lại các tư liệu đó lại.

Điểm chính của các nội dung cuộc họp này là: rút hết dân ra khỏi thành thị; bỏ tiền tệ; đóng cửa các chùa chiền Phật giáo, đuổi sư sãi đi làm lao động nông nghiệp; hành quyết tất cả những người lãnh đạo chính quyền Lon Nol; xây dựng hợp tác xã cấp cao trong cả nước và thực hành chế độ nhà ăn tập thể; đuổi hết dân Việt Nam ra khỏi Campuchia; điều động quân đội đến biên giới Campuchia-Việt Nam chuẩn bị tác chiến; v.v… Có người dự họp còn nói phải hủy bỏ cả trường học và bệnh viện nữa. Hồi ức của Heng Samrin hợp với các nội dung đó và bổ sung thêm: việc hủy bỏ tiền tệ đồng thời tiến hành với xóa bỏ thị trường và tài sản tư nhân. Ông còn nói, trong cuộc họp trên cũng tuyên bố phân loại mọi người thành “Người có quyền lợi đầy đủ” và “Người dự khuyết” (xem trình bầy sau đây). Đáng chú ý là phát biểu của Nuon Chea (một trong các lãnh đạo chủ chốt của Khmer Đỏ) có nhấn mạnh nguyên tắc “xem xét nghiêm ngặt”. Theo giải thích của những người dự họp thì đó là nói có thể sử dụng bạo lực trong quá trình thi hành các chính sách trên để trừ khử hết những người chống đối và bất mãn, không được giữ họ lại trong xã hội.

3. Tái cơ cấu xã hội với cái giá đại tàn sát

Cơ sở của việc tái cơ cấu xã hội của Khmer Đỏ trước hết là tiêu diệt thể xác một bộ phận những kẻ chống đối về chính trị, loại bỏ họ ra khỏi xã hội. Bài nói quan trọng của Pol Pot phát trên đài ngày 27-9-1977 (lúc đó Pol Pot đang ở thăm Trung Quốc) tuyên bố cách mạng Campuchia là “xã hội chủ nghĩa”, trong toàn bộ dân số của Campuchia có 2% là “phần tử phản cách mạng” – nghĩa là con số này vào khoảng 14 vạn người. Đáng chú ý là lúc đó phong trào đàn áp các phần tử đối địch về chính trị trong xã hội đã qua đi, thế mà vẫn còn một tỷ lệ cao như thế phần tử đối địch đang chờ bị đàn áp! Qua đây có thể tưởng tượng số người bị hành quyết với tội danh “phần tử phản cách mạng” trong thời gian từ tháng 4-1975 tới cuối năm 1978 (khi quân đội Việt Nam tiến vào Phnom Penh) lớn đến chừng nào.

Ngoài việc loại bỏ “phần tử phản cách mạng” ra khỏi dân chúng, Khmer Đỏ còn có một chính sách độc nhất vô nhị là công khai phân loại dân Campuchia ra làm hai bộ phận có quyền lợi khác nhau. Sau khi nắm chính quyền, Khmer Đỏ gọi những nông dân vốn ở vùng nông thôn do họ kiểm soát là “Người cũ”, hoặc “Người vùng căn cứ địa”, nghĩa là những người đã tham gia cách mạng. Những người từ thành phố bị di chuyển về nông thôn thì bị gọi là “Người mới” hoặc “Người 17 tháng 4”, nghĩa là người được tiếp thu sau khi Khmer Đỏ tiến vào thành phố. Về nguyên tắc hai loại người này được hưởng sự đối xử chính trị và cấp phát về vật chất khác nhau. “Người cũ” còn có nhiệm vụ cải tạo và giám sát “Người mới”.

Ngoài việc phân loại dựa vào thành phố và nông thôn ra, còn một kiểu phân loại nữa là chia dân Campuchia ra làm “Người được hưởng đầy đủ quyền lợi” và “Người dự khuyết” (người có quyền lợi không đầy đủ). Về sau lại từ hai loại người này tách ra người “Loại B” (nguyên văn: loại hình Á) “Người quyền lợi hoàn toàn cấp một” là những ai trước đây không có người thân làm việc cho chính quyền Lon Nol mà đều chỉ phục vụ cách mạng. “Người quyền lợi hoàn toàn cấp hai” là những ai vừa có người thân tham gia cách mạng lại vừa có người thân từng ở trong chính quyền Lon Nol. Ngoài ra còn có “Người quyền lợi hoàn toàn cấp ba”, nhưng giới hạn cụ thể về loại này không rõ ràng. “Người dự khuyết” cũng chia hai hạng. Hạng một là những ai có người thân phục vụ chính quyền Lon Nol, song đa số là người bình thường, cũng có một số người thân từng gián tiếp phục vụ cách mạng. Hạng hai là những ai hoàn toàn không có người thân từng phục vụ cách mạng.

Qua sự cố ý tổ hợp và phân loại cơ cấu xã hội, Khmer Đỏ trên thực tế đã phục hồi chế độ chủng tính[3] của xã hội vùng Nam Á châu. “Công dân” đã trở thành một đẳng cấp đặc biệt trong xã hội chứ không phải là thứ quyền lợi con người sinh ra đã có. Đồng thời qua biện pháp loại trừ khỏi phạm trù “công dân” những người thuộc loại khác với mình, hoặc những người chỉ có quá khứ không tích cực tham gia cách mạng, Khmer Đỏ đã làm cho việc tùy ý hãm hại và tước đoạt sinh mạng những người nói trên trở nên có lý do “hợp pháp”, do đó việc nhiều người bị giết cũng trở nên không có gì đáng ngạc nhiên. Tuy rằng nói chung Khmer Đỏ chủ yếu lợi dụng số “tiện dân” này để làm những việc lao động cực nhọc, nhưng đồng thời cũng tiến hành “tái giáo dục” tư tưởng cho những người đó. Phương thức tái giáo dục ấy cũng như toàn bộ cuộc cách mạng Campuchia có đặc điểm trực tiếp nhất, thô tục nhất.

Một số “Người 17 tháng Tư” nhớ lại : hàng năm Khmer Đỏ hoặc “Người vùng căn cứ” triệu tập hai lần hội nghị “Cách sống”. Trong cuộc họp bao giờ cũng nhắc lại những câu hỏi như “Có nhất trí với cách mạng không? Có còn nghĩ tới tài sản cá nhân không? Khi lao động có thực sự thấy sung sướng hay chỉ cam chịu phải làm? Còn nhớ vợ con hay không?” Cần nêu ra một việc: những “Người vùng căn cứ” và “Người có quyền lợi hoàn toàn” cũng chỉ được hưởng trên giấy các quyền lợi đầy đủ hơn loại khác, cộng thêm, họ có thể thực hành chuyên chính quần chúng đối với loại người kia mà thôi, chứ còn trước mặt Khmer Đỏ thì họ cũng chẳng có bất kỳ “quyền lợi hoàn chỉnh” nào đáng kể. Thí dụ sau khi thi hành tập thể hóa nông thôn, họ không có quyền tự do rời khỏi làng cũ, toàn bộ tài sản của họ bị tước đoạt, ai giấu lương thực cho nhà mình nếu phát hiện sẽ bị xử tử. Cùng với tình hình kinh tế ngày một xấu đi, nồi cơm nhà ăn tập thể của họ cũng chỉ có cám mà thôi, chẳng khác gì nồi cơm của các đối tượng bị họ thi hành chuyên chính.

Trên lĩnh vực kinh tế, Khmer Đỏ đặt mục tiêu không những loại bỏ ngành thương mại cùng các ngành kinh tế và dịch vụ vốn có trong hình thái xã hội bình thường, mà còn nghiên cứu xây dựng một quốc gia nông nghiệp tự cấp tự túc lấy sản xuất lúa gạo làm toàn bộ cơ sở, dựa xuất khẩu gạo để xây dựng đất nước. Pol Pot nhấn mạnh “nhanh”. Ông ta nói : “Chúng ta khác với họ (tức các nước XHCN khác) ở chỗ chúng ta nhanh hơn”. Sau khi nắm chính quyền, đầu tiên Khmer Đỏ nêu mục tiêu mỗi hecta sản xuất 3 tấn thóc, trong khi trước đó Campuchia bình quân mỗi hecta chỉ sản xuất được 1 tấn. Về sau, tháng 8-1976 chính thức công bố “Kế hoạch 4 năm”, trong đó chính trị tư tưởng được coi là đòn bẩy đắc lực nhất, như một cán bộ nói: “Khi một dân tộc được thức tỉnh bởi giác ngộ chính trị thì họ có thể làm được tất cả. Các kỹ sư không làm được nhưng nhân dân thì làm được” — ý nói người trí thức do bị ràng buộc bởi điều kiện vật chất kỹ thuật nên không tài giỏi bằng những người bình thường. Pol Pot từng tự hỏi và tự trả lời như sau: “Chúng ta có thể thực hiện được các chỉ tiêu ấy không? Trả lời là: ở bất cứ đâu chúng ta cũng thực hiện được, chứng cớ là phong trào chính trị của chúng ta.”

Khi di chuyển một lượng lớn dân thành phố về nông thôn, Khmer Đỏ hồi ấy có xét tới lợi ích về mặt kinh tế là có thể dùng họ làm lao động nông nghiệp mà không phải trả thù lao. Vùng Tây Bắc Campuchia là nơi sản xuất lúa chủ yếu của nước này, trên mức độ lớn, việc sản xuất ấy là do một triệu “Người 17 tháng 4” bị di chuyển lên vùng này cáng đáng. Trong hai năm lao động gian khổ vỡ hoang và đào mương đắp đập, rất nhiều người đã chết vì đói, vì ăn không đủ chất và vì ốm đau. Khi tin tức nhân công lao động bị giảm mạnh được báo cáo lên Phnom Penh, lãnh đạo Khmer Đỏ thường trút cơn giận dữ lên “kẻ thù giai cấp”. Thế là họ lại triển khai cuộc thanh lọc nội bộ những người Khmer Đỏ phụ trách giám sát quản lý lao công và hành quyết những “Người 17 tháng 4” bị nghi ngờ.

Đồng thời các chỉ tiêu do Trung ương đặt ra trở thành nhiệm vụ chính trị, nếu không hoàn thành thì phải hỏi tội các cán bộ địa phương. Điều đó khiến cho các cán bộ cơ sở của Khmer Đỏ đều ra sức đuổi [?] những “Người 17 tháng 4” và nông dân.

Như thế, chỉ tiêu “3 tấn một hecta” và “Kế hoạch 4 năm” với mục đích triệt để cải tạo cơ cấu nền kinh tế quốc gia đã trở thành một bộ phận cấu thành vụ đại tàn sát.

Lịch sử chứng minh, một chính quyền thực hành chuyên chính khủng bố trong xã hội thì sớm muộn cũng sẽ thực hành sự chuyên chính ấy ngay trong nội bộ tập đoàn thống trị. Bởi lẽ khi sự khủng bố có tổ chức đã trở thành quán tính và cấu tạo nên yếu tố cơ chế thì nó tất sẽ tìm được một mục tiêu có tổ chức cho chính bản thân nó; mà sự nguyên tử hóa (theo nguyên văn) xã hội và cá nhân thì sẽ làm cho tự thân tập đoàn thống trị duy nhất có tổ chức trở thành đối tượng của kiểu chuyên chính ấy. Cái ngày mà sự đàn áp và tàn sát quy mô lớn trở thành khâu quan trọng trong cơ cấu xã hội do Khmer Đỏ vừa mới xây dựng nên cũng tức là lúc sự định kỳ thanh lọc trở thành một bộ phận của trật tự trong đảng.

Lý luận của Pol Pot là săn lùng và tiêu diệt các “vi trùng”. Tháng 12-1976, khi đống hồ sơ thẩm vấn của Trung tâm S21 ngày một chất cao như núi, Pol Pot triệu tập một “Hội nghị học tập” và nói: Chúng ta còn chưa thể biết rõ vi trùng ở đâu. Căn bệnh có hiện rõ thì mới khám ra bệnh. Vì cuộc cách mạng nhân dân và cách mạng dân chủ còn thiếu nhiệt lượng… nên công tác săn lùng vi trùng trong đảng ta còn chưa có kết quả. Vi trùng ở những chỗ rất sâu kín. Nhưng khi cách mạng XHCN tiến lên thì chúng chui vào mọi xó xỉnh trong đảng, quân đội và nhân dân. Chúng ta sẽ tìm ra những con vi trùng độc hại ấy… Nhưng nếu ta dừng lại một chút thôi thì lũ vi trùng ấy sẽ thực sự gây nguy hiểm… Qua quan sát 10 năm nay, chúng ta thấy rõ là về cơ bản kẻ địch chưa biến mất, vì chúng không ngừng chui vào đảng. Nhưng Pol Pot lại cam đoan là những con “vi trùng” ấy cuối cùng sẽ bị vạch ra hết, vì “Đảng có rất nhiều con mắt chẳng khác gì mắt của quả dứa”.

Cuộc thanh lọc nội bộ Khmer Đỏ lan rộng tới mức coi toàn bộ tổ chức chính quyền, quân đội, thậm chí toàn thể dân chúng của cả một vùng là đối tượng thanh lọc. Trong đợt thanh lọc vùng Đông Bắc đã nói ở trên, Trung ương nêu khẩu hiệu: cán bộ, quân nhân và thường dân của cả vùng này đều là những kẻ “Người Khmer, lòng dạ Việt Nam”. Kết quả chỉ trong 6 tháng đã hành quyết 10 vạn người, chiếm 1/70 – 1/80 số dân cả nước. Hành quyết với quy mô lớn như thế đã không còn là vấn đề giải quyết một bộ phận người trong đảng mà là tiêu diệt một bộ phận rất lớn dân chúng vốn có của cả một vùng, qua đó thực hiện sự trong sạch về chính trị.

4. Địa vị của Khmer Đỏ trong lịch sử cách mạng thế kỷ XX

Tác giả cho rằng việc tìm hiểu lịch sử nắm chính quyền hơn 4 năm của Khmer Đỏ là sự thách thức đối với lý trí của nhân loại. Đó không phải là nói ở đây có khó khăn gì về học thuật đáng để bàn luận, mà là nói lý trí loài người có năng lực nhận thức được và giải thích được hay không hiện tượng đẫm máu và phi lý chưa từng có ấy, phải chăng nó vượt quá giới hạn cực độ của lịch sử lý trí nhân loại nhận thức lịch sử của mình. Chúng ta có lý luận chủ nghĩa chủng tộc để cơ bản giải thích chính sách diệt chủng của bọn Quốc xã Hitler, song chúng ta có lý luận nào để có thể giải thích vừa ý việc một chính quyền trong 4 năm ngắn ngủi đóng cửa đất nước mình, phát minh ra lắm thứ tội danh không hề có, dùng thủ đoạn bạo lực nguyên thủy nhất để tiêu diệt một phần mấy dân tộc mình? Tại đây tôi chỉ muốn đưa ra vấn đề này để các bạn đọc có tâm tiếp tục suy nghĩ. Bản thân tác giả cũng cảm thấy vô cùng khó hiểu. Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần sự cố gắng chung của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, còn sử học thì chỉ có thể có tác dụng thâu lượm tư liệu, cung cấp các đầu mối cơ bản về sự diễn biến của thể chế đó. Bởi vậy chúng tôi muốn sau khi nêu lên vấn đề siêu hình (nguyên văn hình nhi thượng) này, sẽ trở lại phạm trù hình nhi hạ (?),[4]  từ góc độ lịch sử cách mạng thế kỷ XX bàn thảo một chút về địa vị của Khmer Đỏ. Góc độ này có thể tái cung cấp chút ít manh mối gián tiếp cho câu hỏi kể trên.

Phương Tây có những nhận thức khác nhau về tính chất cuộc cách mạng của Khmer Đỏ. Có quan điểm cho rằng đây là một cuộc “cách mạng nông dân triệt để”, là sự trả thù của nông dân khởi nghĩa đối với thành phố; hành vi bạo lực của nó không bắt nguồn từ tư tưởng của Pol Pot và Khieu Samphan, mà là kết quả của việc chủ nghĩa dân tộc, dân túy và cách mạng nông dân áp đảo chủ nghĩa tư bản. Vả lại những người lãnh đạo đảng Cộng sản Campuchia cũng thuộc giai cấp tiểu tư sản mang đậm chất lãng mạn nông dân. Nhưng Ben Kiernan, tác giả sách “Chế độ Pol Pot” — một cuốn sách rất có ảnh hưởng, dựa trên hơn 500 cuộc phỏng vấn của mình —  thì cho rằng ngay cả nông dân cũng chẳng thể sống còn được dưới chế độ này. Chính sách nông thôn của Khmer Đỏ là hy sinh lợi ích của tiểu nông. Nó phá hủy 3 yếu tố mà nông dân Campuchia dựa vào để sinh tồn trong cả nghìn năm qua — gia đình, ruộng đất và tôn giáo; nó trực tiếp trói buộc họ dưới quyền lực của nhà nước, trên thực tế là xây dựng một nước nông nghiệp của những người nô lệ theo hợp đồng (Indentured Agrarian State).

Đáng chú ý quan điểm của chính người Campuchia — ông Hun Sen, đương kim Thủ tướng Campuchia, nguyên cán bộ Khmer Đỏ cấp cao — thể hiện trong cuốn “130 năm Campuchia” (bản tiếng Trung Quốc xuất bản tháng 4-2008, phát hành tại Campuchia và Singapore). Theo Tuần san Á châu xuất bản tại Hong Kong ngày 5-4-2008, Hun Sen cho rằng “Cách mạng Trung Quốc có gốc rễ tư tưởng là tư tưởng Mao; tư tưởng của Pol Pot cũng bắt rễ từ tư tưởng Mao. Tư tưởng đó được thực hiện ở Campuchia nhưng cũng bị chứng minh là thất bại.” Sau khi Hun Sen đi thăm Bắc Triều Tiên về, ông bổ sung thêm nguồn gốc sinh ra đường lối của Khmer Đỏ, cho rằng những thứ vượt qua chủ nghĩa Mao trong tư tưởng Pol Pot thì bắt nguồn từ Bắc Triều Tiên.

Chúng tôi cho rằng rõ ràng Khmer Đỏ thuộc vào đường dây cách mạng XHCN thế kỷ XX, song lại là sự thừa kế thời kỳ cực đoan của cuộc cách mạng này —  cách mạng Nga đến cuối thập niên 30, cách mạng Trung Quốc đến cuối thập niên 70 và cách mạng Cuba đến cuối thập niên 60. Sự tái cơ cấu xã hội của 3 cuộc cách mạng ấy vốn dĩ có một xu thế tăng tốc, cuộc cách mạng sau sớm hơn, nhanh hơn, cấp tiến hơn cuộc cách mạng trước. Khmer Đỏ là phiên bản thu nhỏ và cường hóa của các cuộc cách mạng đó. Chứng cớ là Khmer Đỏ trong 2-3 năm đi hết chặng đường lịch sử cách mạng tái cơ cấu xã hội mà các cuộc cách mạng kia cần phải tiến hành ngắn nhất 10 năm, dài nhất 30 năm. Thí dụ: nó hầu như không có cách mạng ruộng đất mà tiến ngay lên tập thể hóa nông nghiệp — còn Liên Xô và Trung Quốc thì khá lâu sau khi giành chính quyền mới tiến hành tập thể hóa. Khmer Đỏ bắt đầu thực thi “Kế hoạch 4 năm” cũng sớm hơn nhiều so với 3 nước nói trên. Tại ba nước đó (nhất là Liên Xô và Trung Quốc), sau khi giành chính quyền hơn 10 năm mới có các cuộc đấu tranh và thanh lọc quy mô lớn trong nội bộ đảng, còn Khmer Đỏ thì hầu như vừa vào thành phố là triển khai ngay việc đó.

Nhưng sự rút ngắn thời gian chỉ là một mặt, điều quan trọng hơn là tính cực đoan trong chính sách của Khmer Đỏ. Tại nước Campuchia Dân chủ, cơ bản không thấy các chính sách có đặc trưng “thời kỳ quá độ”, như thuyết phục, giáo dục, hạn chế, lợi dụng, cải tạo … Thủ đoạn duy nhất của Khmer Đỏ là mệnh lệnh của Angkar và súng AK47. Nhiều nhà nghiên cứu vạch ra: ở Campuchia không thấy có các biện pháp chủ yếu các nước XHCN khác hay dùng để thực hiện lời kêu gọi của đảng, như đại hội động viên hoặc diễu hành quần chúng, thậm chí Khmer Đỏ cảm thấy những thứ đó là thừa.

Ngoài ra, trong 3 cuộc cách mạng kể trên, gia đình với tư cách là đơn vị cơ bản của xã hội tuy đã được cải tạo cực lớn từ quan niệm đến hình thái, song kết cấu cơ bản của gia đình thì vẫn tồn tại, không bị xóa bỏ. Nhưng Khmer Đỏ thì coi xóa bỏ gia đình là khởi điểm của việc tái cơ cấu xã hội, họ thực thi nó ngay từ trước khi giành chính quyền và sau khi giành chính quyền thì mở rộng ra khắp cả nước. Hợp tác xã và các tổ chức cưỡng chế lao động trở thành đơn vị cơ bản nhất của xã hội. Các thành viên gia đình tùy theo giới tính và độ tuổi bị chia tách vào các tổ chức khác nhau, trẻ vị thành niên bị tách khỏi cha mẹ. Nam 32, nữ 25 tuổi trở lên mới được kết hôn. Một hình thức quan trọng nữa nhằm xóa bỏ gia đình được thực hiện triệt để nhất là chế độ nhà ăn tập thể. Ý nghĩa của nó không chỉ là cùng ăn uống, mà là tiêu diệt không gian riêng tư trong đời sống xã hội. Khmer Đỏ coi việc xóa bỏ ăn cơm gia đình là thành tích thể hiện rõ nhất tính sáng tạo cách mạng của Campuchia. Cán bộ Khmer Đỏ nói: thậm chí Trung Quốc vẫn còn giữ lại cái “cơ cấu chủ nghĩa tư bản” này.

Khmer Đỏ không kém bất cứ ai về mặt tập trung cao độ quyền lực, hơn nữa còn có đặc sắc riêng — đó là nền chính trị gia tộc (clan politics). Hai lãnh tụ Khmer Đỏ cao nhất là Pol Pot và Ieng Sary là anh em đồng hao, từ ngày du học ở Paris đã liên kết chính trị với nhau. Mối “quan hệ thân thích” cách mạng ấy khiến cho các thành viên gia đình cán bộ cao cấp nắm giữ hết mọi chức vụ lãnh đạo các cấp. Điển hình nhất là Tà Mốc, nhà lãnh đạo Khmer Đỏ đại khu Tây nam, từng được báo chí Trung Quốc gọi là người “thiện chiến” nhất, “oai vệ” nhất, được cấp dưới kính sợ. Con người ấy chẳng những được gọi là “đồ tể” do đã tiến hành cuộc thanh lọc đẫm máu ở đại khu miền Đông, mà còn bố trí hầu như toàn bộ thành viên gia đình mình vào các chức vụ quan trọng đảng, chính quyền và quân đội ở đại khu Tây Nam (cá biệt vào cả thủ đô Phnom Penh), gồm: 2 bà con thông gia (lãnh đạo tổ chức đảng cấp cao nhất ở cấp vùng), 4 con trai (từ bí thư đảng nhà máy tới chỉ huy cấp sư đoàn), 5 con rể (từ bí thư tỉnh cho tới tư lệnh sân bay Pochentong); trong 5 con gái thì một là bí thư đảng khu Tram Kak (khu kiểu mẫu của Khmer Đỏ, bí thư cũ là chồng cô này), một là giám đốc bệnh viện… Chính màng lưới quyền lực gia đình ấy làm cho Tà Mốc được gọi là “Bố già Tà Mốc”.

Trong khi bắt mọi người xóa bỏ gia đình thì Khmer Đỏ lại phát huy chức năng gia đình mình tới trình độ tương đương một cơ cấu chính quyền. Điều đó chẳng những xuất phát từ thói “Một người làm quan, cả họ được nhờ”, mà hơn nữa, trong cái chế độ xây dựng bằng thủ đoạn đẫm máu như thế, mối quan hệ huyết thống đã trở thành mối quan hệ duy nhất có thể tin cậy. “Đồ tể” Tà Mốc là viên tướng Khmer Đỏ kiên trì tới cuối cùng (mãi tới tháng 4-1999 mới bị sa lưới). Đó là do hắn giết quá nhiều người nên không thể nào trở về với xã hội được nữa; mặt khác điều ấy cũng nói lên màng lưới quyền lực gia đình của hắn rất có hiệu quả.

Đáng kể là mùa thu năm 1978, khi chính quyền Khmer Đỏ chỉ còn lại 2-3 tháng cuối cùng, trong đảng có thảo luận vấn đề “cải cách”, bắt đầu từ biện pháp “giáo dục”. Một số trường tiểu học được mở lại (có tài liệu nói con em những “Người 17 tháng 4” không được đi học). Mấy trăm nhà trí thức học ở phương Tây về bị giết bị tù, còn lại 15 người nhận lệnh mở một trường đại học kỹ thuật, tuyển sinh 300 người tuổi từ 10 đến 16. Ngoài ra thậm chí còn xét đến chuyện khôi phục lại tiền tệ.

Khmer Đỏ tưởng rằng lịch sử còn cho họ một cơ hội để thực hành “Chính sách kinh tế Mới”, khiến họ có thể lập thêm một kỳ tích mới, trong 4 năm có thể đi từ tai họa dân tộc tới “Cải cách mở cửa”. Nhưng họ đã lầm. Xã hội Campuchia bị Khmer Đỏ phá hủy tới mức không thể nào xây dựng lại trong tay họ được nữa. Nhân dân Campuchia thà tiếp nhận một chính quyền do Việt Nam nâng đỡ dựng lên, ít nhất có thể làm cho họ được đoàn tụ gia đình.

Khmer Đỏ từng tự nhận họ đã cáng đáng nhiệm vụ làm làn sóng cuối cùng của cuộc cách mạng không ngừng tăng tốc trên phạm vi toàn thế giới, song kết quả họ lại lao đầu xuống cái hố sâu nghìn trượng được bồi táng [chôn theo] xương trắng của hơn một triệu đồng bào mình. ★

Nguyễn Hải Hoành biên dịch và ghi chú | Bản gốc tiếng Trung: 以革命的名义:红色高棉大屠杀揭秘, 2008年03月04日 千龙网

(Nghiên Cứu Quốc Tế)

———————–

Ghi chú của người dịch:

[1] Angkar, tiếng Campuchia, nghĩa là tổ chức; hiểu là tầng lớp lãnh đạo Khmer Đỏ.

[2] Những chữ có gạch dưới trong nguyên bản đều là ô vuông (lỗi do máy tính), ở đây người dịch phỏng đoán.

[3] Chế độ chủng tính (caste system): xã hội cổ Ấn Độ chia dân chúng làm 4 chủng tính (tập đoàn đẳng cấp), các chủng tính không được giao lưu với nhau, không được lấy vợ chồng là người khác chủng tính … Cách phân chia này thể hiện sự áp bức giai cấp tàn khốc và cực kỳ mất bình đẳng. 4 chủng tính gồm: – Bà La Môn (Brahman, tức giới tăng lữ đạo Bà La Môn); – Sát Đế Lợi (Kshatrya, tức tầng lớp võ sĩ); – Phệ Xá (Vaisya, nhà buôn và nông dân); – Thủ Đà La (Sudra, lao động không nghề nghiệp). Ngoài ra còn có tầng lớp tiện dân (Harijan), là tầng lớp dưới cùng, còn gọi là tầng lớp không thể tiếp xúc (untouchable).

[4] Hình nhi hạ: chữ Hán dùng trong bản gốc, chưa tìm được từ tiếng Việt tương đương. Chúng tôi đoán là cụ thể/ thực tại.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Con Lưu Thiếu Kỳ từng nói cha của ông đã dựng nên đàn thần để tế chính mình

Ngày 18/8/1966, sau khi cựu Chủ tịch Đảng Mao Trạch Đông phát động cuộc Cách mạng Văn hóa, lần đầu tiên gặp gỡ Hồng Vệ Binh tại quảng trường Thiên An Môn. Trong hình có thể thấy các quan chức cấp cao của ĐCSTQ đều đeo phù hiệu Hồng Vệ Binh trên tay áo, tay cầm “Cẩm nang Hồng Vệ Binh”, duy nhất cựu Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ không có, cho thấy thái độ bất mãn của ông đối với ông Mao Trạch Đông. Sau đó không lâu thì ông Lưu Thiếu Kỳ bị bức hại.
Ngày 18/8/1966, sau khi cựu Chủ tịch Đảng Mao Trạch Đông phát động cuộc Cách mạng Văn hóa, lần đầu tiên gặp gỡ Hồng Vệ Binh tại quảng trường Thiên An Môn. Trong hình có thể thấy các quan chức cấp cao của ĐCSTQ đều đeo phù hiệu Hồng Vệ Binh trên tay áo, tay cầm “Cẩm nang Hồng Vệ Binh”, duy nhất cựu Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ không có, cho thấy thái độ bất mãn của ông đối với ông Mao Trạch Đông. Sau đó không lâu thì ông Lưu Thiếu Kỳ bị bức hại.

Cách mạng Văn hóa là một đại họa chưa có tiền lệ trong lịch sử Trung Hoa. Trong Cách mạng văn hóa, Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa kiêm Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), trước khi chết đã phải chịu vô vàn dày vò đau đớn, không những thế, khi chết thì danh tính của ông cũng bị giấu đi. Con của ông Lưu Thiếu Kỳ là Lưu Nguyên từng nói, cha mình bị hại chết bởi chính đàn tế thần do ông dựng lên.

Báo Người Cao Tuổi ở đại lục từng chỉ ra, nhiều năm trước, con của Lưu Thiếu Kỳ là Lưu Nguyên từng viết nhiều bài về cha mình, ông tổng kết mối quan hệ giữa ông Mao Trạch Đông và cha mình theo ba giai đoạn: Thời Đại Cách mạng Chính trị, khi đó Đảng Cộng sản đang giành chính quyền, quan hệ giữa họ rất thân mật; thời Đại Cách mạng Kinh tế, tức Đại nhảy vọt, họ bắt đầu phân nhánh; thời Đại Cách mạng Văn hóa, họ phân liệt, quan hệ kết thúc bằng tấm bi kịch.

Lưu Nguyên cho rằng cha mình có hai sai lầm to lớn: Một là, sau Đại nhảy vọt về kinh tế 3 năm điều chỉnh nhưng bất lực; hai là, Đại Cách mạng Văn hóa, ngay từ những ngày đầu tiên ông đã không tán thành, sau đó bắt đầu ngăn chặn nhưng kết quả thu được là vô cùng nhỏ nhoi.

Lưu Nguyên nói, vì sai lầm của ông khiến ông phải trả giá bằng cả tính mạng, “Bị ép chết bởi chính đàn thần do mình dựng nên, nỗi đau đó vượt xa những gì bản thân tôi phê bình”.

Ông Lưu Thiếu Kỳ bị đả đảo trong Cách mạng Văn hóa

Vào tháng 8/1966, ông Mao Trạch Đông viết bài “Pháo bắn Bộ Tư lệnh – trang Đại Tự báo đầu tiên của tôi”, mục đích trực tiếp nhắm vào ông Lưu Thiếu Kỳ, đồng thời vị trí thứ hai của ông Lưu trong Đảng Cộng sản cũng bị Lâm Bưu thế chỗ, từ đó thân phận Phó Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản không còn được nhắc đến. Ngày 16/10, tại cuộc họp mở rộng của Bộ Chính trị, ông Lưu bị Trần Bác Đạt và Lâm Bưu phê bình. Sau đó Đại Tự báo, Báo Đảng của ĐCSTQ cũng bắt đầu phê bình ông.

Tháng 12/1966, vấn đề về ông Lưu Thiếu Kỳ được đưa ra công khai, bà Giang Thanh tuyên bố “Lưu Thiếu Kỳ chính là Khrushchev trong Đảng”. Tại Bắc Kinh bắt đầu xuất hiện những biểu ngữ “đả đảo Lưu Thiếu Kỳ”. Đồng thời ĐCSTQ cũng thành lập “Chuyên án Lưu Thiếu Kỳ và Vương Quang Mỹ”, phụ trách chính là ông Chu Ân Lai.

Sau khi Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ bị bỏ tù trong Cách mạng Văn hóa, vào sinh nhật năm 70 tuổi của ông năm 1968, ông Mao Trạch Đông và ông Chu Ân Lai căn dặn thuộc cấp Uông Đông Hưng đặc biệt gửi ông Lưu Thiếu Kỳ món quà sinh nhật là một máy ghi âm. Mục đích là để ông nghe thấy thông báo từ Hội nghị toàn quốc lần thứ 12 khoá 8 Trung ương ĐCSTQ, với tuyên bố: Khai trừ khỏi Đảng kẻ phản bội và nội gián Lưu Thiếu Kỳ, tiếp tục xử lý Lưu Thiếu Kỳ và đồng bọn tội “phản Đảng phản quốc”! Sự kiện này làm tinh thần ông Lưu Thiếu Kỳ bị tổn thương nghiêm trọng, bệnh tình của ông ngày càng nặng.

Vừa bị trọng bệnh lại bị trói nằm trên giường

Đã bị bệnh nặng, ông Lưu Thiếu Kỳ lại bị trói cố định nằm trên giường. Trong cuốn sách «Lịch sử 10 năm Cách mạng Văn hóa» của Cao Cao và Nghiêm Gia Kỳ, xuất bản năm 1986 có ghi: “Không ai giúp ông thay quần áo, không ai dìu ông đến nhà vệ sinh đi đại tiểu tiện, phân và nước tiểu quyện vào quần áo ông mặc. Vì nằm trên giường thường xuyên khiến hai chân của ông bị suy thoái, khô gầy như củi, cơ thể bị hoại tử thối rữa… Chúng dùng vải băng cố định hai chân Lưu Thiếu Kỳ trên giường khiến ông không thể cựa quậy được”.

Toàn thân ông Lưu Thiếu Kỳ vì bị hoại tử khiến chảy nước mủ, vô cùng đau đớn. Đến tháng 10/1969, cơ thể của ông chỉ còn một đống thịt hôi thối, hơi thở thoi thóp. Đặc phái viên của ĐCSTQ không cho dùng thuốc khi ông bị sốt, họ còn điều toàn bộ nhân viên chữa bệnh và chăm sóc đi chỗ khác.

Ngày 12/11/1969, ông Lưu Thiếu Kỳ qua đời vô cùng thảm thương trong tình trạng cô độc một mình trong căn phòng ở thành phố Khai Phong, Hà Nam. Lúc gần qua đời trông ông không còn ra hình người nữa.

Vào nửa đêm 2 ngày sau, ĐCSTQ phải bí mật cho hỏa thiêu thi thể đầy bệnh truyền nhiễm của ông. Trên tấm biển trước thi thể ghi: Họ tên: Lưu Vệ Hoàng; nghề nghiệp: không; nguyên nhân chết: bị bệnh.

Ông Lưu Thiếu Kỳ đưa ông Mao Trạch Đông lên đàn thần, tự chuốc lấy tai vạ

Năm 2004, cụ Tư Mã Lộ ở tuổi 85 đã cho xuất bản sách «Hồi ức Tư Mã Lộ» làm rõ một thời kỳ lịch sử Trung Quốc. Trong sách viết, ông Lưu Thiếu Kỳ là thứ công cụ của ĐCSTQ. Ông Lưu Thiếu Kỳ vào Đảng cũng như một khúc gỗ giao cho Đảng, Đảng muốn dùng làm ghế, làm bàn, làm nhà, đều phải phục tùng. Nếu Đảng muốn làm một cái bô, vậy anh cũng phải nếm mùi hôi thối. Ông Tư Mã Lộ viết, ông Lưu Thiếu Kỳ từng đã phê bình Vương Minh rằng, làm công cụ của Đảng là không có điều kiện.

Vừa khởi đầu Cách mạng Văn hóa, ông Lưu Thiếu Kỳ đã bị đả đảo, khi đó ông đã thỉnh cầu Mao cho từ bỏ mọi chức vụ để về quê làm ruộng, làm một người bình thường. Có lẽ ông Lưu Thiếu Kỳ đã quên rằng, ông chỉ là một công cụ của Đảng, khi Đảng cần dựng lên một Khrushchev của Đảng làm mặt phản diện điển hình, đã khai cung thì tên không thể nào quay lại được.

Với việc đưa ông Mao Trạch Đông lên đàn thần, ông Lưu Thiếu Kỳ chính là người khởi xướng cho cái ác lộng hành. Từ việc chỉnh đốn tác phong ở Diên An đến Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ 7, ông Lưu chính là người khởi xướng đưa ông Mao lên vị trí tối cao, thậm chí còn xem ông Mao là Hoàng đế của Cách mạng Trung Quốc.

Thảm họa 10 năm Cách mạng Văn hóa

Cách mạng Văn hóa chính thức khởi đầu từ ngày 16/5/1966, trong 10 năm diễn biến là một trang sử u tối nhất trong lịch sử dân tộc Trung Hoa, ĐCSTQ gọi đây là “10 năm thảm họa”.

Trong thời gian 10 năm Cách mạng Văn hóa, ĐCSTQ đã gây ra vô số án oan, từ ngay cả Chủ tịch nước, vị trí tối cao của quốc gia, cũng bị hạ xuống tới tận cùng thành người dân thường, vô số người bị bức hại đến chết. Ông Hồ Diệu Bang, từng là Tổng Thư ký Trung ương ĐCSTQ khi đó, đã nói với phóng viên của Nam Tư: “Khi đó có cả trăm triệu người bị liên lụy, chiếm 1/10 dân số Trung Quốc”.

Theo một nghiên cứu tổng hợp của Phòng nghiên cứu Trung ương ĐCSTQ, có tên “Sự thực lịch sử vận động chính trị từ khi kiến quốc”, có đến hơn 4,2 triệu người bị bắt nhốt thẩm tra; 1.728.000 người bị chết bất thường; hơn 135.000 người bị tử hình vì khép vào tội phản cách mạng; hơn 237 ngàn người chết trong đấu tố; hơn 7.030.000 người bị thương tật. Còn theo thống kê của của các chuyên gia căn cứ vào những bộ Huyện chí của Trung Quốc, số người chết bất thường trong Cách mạng Văn hóa ít nhất là 7.730.000 người. Có thể nói, số người bị chết trong Cách mạng Văn hóa hiện nay vẫn là một câu đố chưa có lời giải rõ ràng.

Theo secretchina

Tinh Vệ biên dịch

(Đại Kỷ Nguyên VN)

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Người Việt Nam kêu gọi Tổng thống Hàn Quốc xin lỗi

Theo đại diện của tổ chức ‘Voices of Vietnam’, cho tới nay, họ chưa nhận được hồi đáp của bà Park Geun-hye.
Theo đại diện của tổ chức ‘Voices of Vietnam’, cho tới nay, họ chưa nhận được hồi đáp của bà Park Geun-hye.

Mười phụ nữ Việt, tự nhận bị binh sĩ Hàn Quốc hãm hiếp trong Chiến tranh Việt Nam, đã viết thư yêu cầu chính quyền Seoul, nhất là Tổng thống Park Geun-hye, phải công khai xin lỗi vì những gì lực lượng của nước bà gây ra đối với họ hàng chục năm trước.

Các nạn nhân bị tấn công tình dục, nay ở tuổi ‘gần đất xa trời’, chính thức khởi động chiến dịch tìm lại công lý hôm nay, 15/10, bằng việc gửi một lá thư ngỏ tới Văn phòng Tổng thống Hàn Quốc và gửi thêm tới Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon, với sự hỗ trợ của tổ chức ‘Voices of Vietnam’ ở Hoa Kỳ, nơi bà Park đang có chuyến công du kéo dài nhiều ngày.

Bức thư có đoạn: “Chúng tôi viết cho bà hôm nay vì chúng tôi lo sợ rằng các câu chuyện của chúng tôi sẽ bị lãng quên. Nhiều thập kỷ đã trôi qua nhưng chúng tôi vẫn chưa nhận được một lời xin lỗi chính thức, một sự thừa nhận hay bồi thường từ chính phủ của bà”.

Bà Trần Thị Ngải, 74 tuổi, là một trong những người phụ nữ ký vào lời yêu cầu gửi bà Park Geun-hye.

Tôi mong muốn Tổng thống Hàn Quốc phải hồi đáp. Người đàn bà như tôi cần phải có cái công bình. Ba đứa con tôi tại nước Việt Nam rất là khổ cực. Con tôi không ai cho học. Nhà cửa bị tịch thu, và họ đánh chết ông cha tôi. Nếu không xảy ra cái quá khứ thì giờ này tôi sống như những người phụ nữ đàng hoàng, nhà cao cửa rộng.
Bà Trần Thị Ngải nói.

Bà nói thêm với VOA Việt Ngữ về lý do lên tiếng: “Tôi mong muốn Tổng thống Hàn Quốc phải hồi đáp. Người đàn bà như tôi cần phải có cái công bình. Ba đứa con tôi tại nước Việt Nam rất là khổ cực. Con tôi không ai cho học. Nhà cửa bị tịch thu, và họ đánh chết ông cha tôi. Nếu không xảy ra cái quá khứ thì giờ này tôi sống như những người phụ nữ đàng hoàng, nhà cao cửa rộng. Bây giờ tôi mong ước sao cho tôi được có cái bình đẳng lại, và như thế, con cái tôi nó mới không ân hận là người mẹ làm cho con bị khổ”.

Bức thư viết tiếp: “Chúng tôi kêu gọi bà hãy sử dụng quyền lực và năng lượng của mình để làm dịu bớt nhiều thập kỷ chúng tôi phải chịu đựng nỗi thống khổ và con cái chúng tôi, bị gọi là Con lai đại Hàn, phải chật vật sinh sống”.

Ông Trần Văn Ty, 45 tuổi, là con trai của bà Ngải. Ông được sinh ra tại huyện Tuy Hòa, Phú Yên, sau khi mẹ ông “bị lính Hàn Quốc hãm hiếp”.

Ông kể với VOA Việt Ngữ về những thách thức vấp phải trong cuộc sống: “Trong thời gian tháng Tư năm 75, tôi bắt đầu nghe những lời người lớn họ nói hay bạn bè nói với tôi rằng ‘mày là thằng con ngoại lai, con của tụi lính đánh thuê Nam Triều Tiên, con của tụi khát máu, giết người không gớm tay. Họ đánh, họ chế giễu tôi, ‘mày là con lai, mày là con của tụi đánh thuê Triều Tiên, tụi nợ máu của nhân dân, hãy đánh’. Họ hô một phát là xô vào đánh tôi, như đánh kẻ thù.  Họ đánh tới tấp. Họ đánh tôi như là một tội phạm. Tôi đã phải chịu những trận đòn đó trên dưới 10 năm”.

Bà Trần Thị Ngải, 74 tuổi, là một trong những người phụ nữ ký vào lời yêu cầu gửi bà Park Geun-hye.
Bà Trần Thị Ngải, 74 tuổi, là một trong những người phụ nữ ký vào lời yêu cầu gửi bà Park Geun-hye.

Chính phủ Việt Nam chưa công bố con số thống kê các nạn nhân bị binh sĩ Hàn Quốc tấn công tình dục, nhưng theo bức thư, hiện có khoảng 800 phụ nữ trong số hàng nghìn người từng bị hãm hiếp vẫn còn sống.

Có hàng trăm nghìn binh sĩ Hàn Quốc cùng với lực lượng Mỹ tham chiến ở Việt Nam, và người đứng đầu chính quyền Seoul khi ấy là ông Park Chung-hee, cha đương kim Tổng thống Park Geun-hye.

Ông Ty cho biết đã một số lần tới Hàn Quốc để tìm cha. Ông kể, có lần, khi tới trụ sở của hội cựu chiến binh của nước này nhưng họ nói với ông rằng “ở Việt Nam, không có một người con nào của lính Đại Hàn cả, và đừng bao giờ nói với họ về điều đó”.

"Bặt vô âm tín"

Ông cũng đã nhiều lần viết như gửi tới các cấp của Hàn Quốc, nhưng không nhận được hồi âm. “Bao nhiêu bức thư tôi gửi đi đều bặt vô âm tín. Họ không bao giờ trả lời cho chúng tôi, và họ cũng không bao giờ thèm đả động tới con lai đại Hàn dân quốc”, ông nói.

Tuy nhiên, ông Ty cho biết ông sẽ không dừng lại cho tới khi nào nhận được lời xin lỗi.

Tôi tha thiết yêu cầu chính phủ Hàn, nhân dân Hàn hãy lên tiếng, trả lại danh dự cho mẹ chúng tôi. Những người mẹ chúng tôi đau bênh già yếu, mà để chết đi trong sự nhục nhã thì chúng tôi cứ phải giữ cái nỗi nhục nhã đó mà chúng tôi sống hay sao?
Ông Trần Văn Ty nói.

Ông nói tiếp: “Tôi tha thiết yêu cầu chính phủ Hàn, nhân dân Hàn hãy lên tiếng, trả lại danh dự cho mẹ chúng tôi. Những người mẹ chúng tôi đau bênh già yếu, mà để chết đi trong sự nhục nhã thì chúng tôi cứ phải giữ cái nỗi nhục nhã đó mà chúng tôi sống hay sao? Hãy trả lại cho chúng tôi quyền sống, chứ không phải để cho chúng tôi sống tại một đất nước mà chúng tôi không có tự do”.

Một lời kêu gọi cũng đã được lập trên trang change.org, và hiện đã có gần 30 nghìn người ký tên ủng hộ.

Theo đại diện của tổ chức ‘Voices of Vietnam’, cho tới nay, họ chưa nhận được hồi đáp của bà Park Geun-hye.

Những người phụ nữ Việt gửi bức thư cho bà Park một tháng sau khi 10 phụ nữ Hàn Quốc từng bị ép quan hệ tình dục với binh sĩ Nhật Bản trong Thế chiến II đệ đơn kiện ở tòa án ở Hàn Quốc để đòi gần 90 nghìn đôla bồi thường từ chính phủ Nhật.

Đây là lần đầu tiên những người phụ nữ được gọi là “an úy phụ” của Hàn Quốc đòi Nhật bồi thường tại tòa án trong nước vì những nỗi thống khổ mà họ trải qua trong thời kỳ chiến tranh.

(VOA)

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Chính sách đối ngoại của Ngô Đình Diệm (P.1)

pentagonpapers.16

Chính sách đối ngoại của một quốc gia là sản phẩm của nhiều lực lượng, thường là đối lập nhau, nhưng là những lực lượng tương đối rõ ràng. Điều này đặc biệt rõ rệt trong lịch sử ngoại giao của các nước được thiết lập lâu đời trên vũ đài chính trị thế giới. Hệ quả của các nhân tố như vị trí địa lý, dân số, tài nguyên kinh tế, lịch sử và ý thức hệ thường được dẫn giải như những yếu tố quyết định chủ yếu của chính sách đối ngoại. Ít nhất, những yếu tố quyết định đó xuất hiện để đặt ra các giới hạn cho việc thực hiện chính sách đối ngoại nói chung của một quốc gia cụ thể.

Tuy vậy, việc phân tích chính sách đối ngoại theo nghĩa đó trở nên quá máy móc; thường không xem xét được những yếu tố ngẫu nhiên và phi lý vốn có trong mọi sự kiện của con người. Hơn nữa, trong trường hợp các quốc gia mới độc lập, nghiên cứu các yếu tố quyết định này thường chẳng có tác dụng mấy trong việc tìm hiểu các chính sách đối ngoại của họ. Hoàn cảnh ra đời của các nhà nước độc lập, tính ngẫu nhiên của các cuộc đấu tranh cay đắng giành sống còn, sự thiếu kinh nghiệm của họ trong thăng trầm của quan hệ quốc tế có thể dẫn đến những năm tháng hành động ban đầu cách xa với những gì rút cục được coi là giới hạn “bình thường” trong chính sách đối ngoại. Một đất nước cần có thời gian để ổn định. Việc xem xét hồ sơ quốc tế trong những năm mới ra đời của một quốc gia có thể không thật sự mang lại nhiều bài học cho xu hướng chính sách đối ngoại có thể có trong dài hạn.

Điều đó có thể rất đúng với trường hợp Nam Việt Nam. Hoàn cảnh ra đời đầy bạo lực khi trở thành một quốc gia độc lập năm 1954, và lịch sử u sầu của nó từ thời đó, có vẻ đã bóp méo chính sách đối ngoại đến mức vượt xa khỏi ngoài biên giới của cái được cho là giới hạn tự nhiên của nó. Từ khi độc lập, Nam Việt Nam đã phải tập trung hoàn toàn vào cuộc đấu tranh để đơn giản có thể tồn tại như một thực thể độc lập. Trong quá trình đó, sự phát triển trong quan hệ giữa Sài Gòn và các nước khác đã bị ảnh hưởng to lớn, và sự tiến hóa từ từ của một chính sách đối ngoại “bình thường” – phản ánh những gì rốt cục có thể trở thành các quyền lợi kinh tế, chính trị “truyền thống” và các quyền lợi khác của quốc gia – đã bị hao mòn.

Tất cả điều đó nhanh chóng trở nên rõ ràng khi tìm hiểu diễn biến chính sách đối ngoại của Nam Việt Nam dưới chế độ Ngô Đình Diệm. Đây là một giai đoạn nghiên cứu cực kỳ thú vị và vô cùng quan trọng nhằm hiểu được chính trị đương đại, không chỉ ở Đông Nam Á mà trên cả thế giới. Nhưng tình hình suốt thời Diệm và sau khi ông bị lật đổ trở nên thật sự bất thường khiến ta chần chừ khi khái quát hóa các xu hướng dài hạn của chính sách đối ngoại từ hồ sơ lịch sử. Trong khía cạnh này, các chế độ khác nhau sau Diệm kể từ tháng 11/1963 đã thể hiện sự nối tiếp những bất thường của giai đoạn Diệm. Thật sự mà nói, truyền thống chính sách đối ngoại “bình thường” của Nam Việt Nam vẫn chưa được tạo ra.

Bài viết này muốn đánh giá hồ sơ của Nam Việt Nam trên trường quốc tế suốt thập kỷ nắm quyền của Diệm. Nó không nhằm mục đích diễn giải lịch sử có hệ thống về chính sách đối ngoại của Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn mười năm đó bởi hồ sơ tư liệu vẫn còn hoàn toàn thiếu thốn cho mục đích ấy. Do đó, trong khi chúng ta xem xét các chủ đề chính của chính sách đối ngoại dưới thời Diệm, phân tích này đặc biệt nhằm truyền tải một số điều về chất lượng và “hương vị” của chính sách, và xem xét một số định kiến cơ bản đã tạo nên bản chất của việc hình thành chính sách ấy.

Tầm quan trọng tương đối của chính sách đối ngoại

Ngô Đình Diệm thống trị chính phủ Nam Việt Nam trong gần một thập niên, từ khi nhận chức tháng 7/1954 cho đến khi bị ám sát tháng 11/1963. Chế độ của ông để lại dấu ấn mãi mãi lên lịch sử đương đại của Việt Nam và Đông Nam Á. Các sai lầm bi kịch và những cơ hội bị đánh mất trong các năm cầm quyền của ông, và tình hình u ám xung quanh việc ông bị lật đổ, đã làm lu mờ các thành tựu hiển nhiên của Diệm, nhất là trong những năm 1950. Hồ sơ trong lĩnh vực đối ngoại đặc biệt đáng lưu ý. Nhìn chung, tuy có một số khuyết điểm rõ ràng, việc thực hiện công tác đối ngoại suốt thời Diệm nắm quyền là điều đáng khen.

Ở một chừng mực đáng kể, chính sách đối ngoại của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) suốt giai đoạn này là chính sách của chính Ngô Đình Diệm. Mặc dù ông thường dựa vào các nhóm cố vấn thường xuyên bị thay đổi, cả về đối ngoại và đối nội,[1] bản thân Diệm là nhân tố quyết định trong việc hình thành chính sách trong ít nhất mười năm sau đó cho đến khi ông ngày càng phụ thuộc vào người em Ngô Đình Nhu. Các Ngoại trưởng của Diệm, kể cả Vũ Văn Mẫu – người giữ chức Bộ trưởng trong gần hết thời gian đó, đóng vai trò tuy đáng kể nhưng vẫn mang tính bổ trợ.[2] VNCH không có John Foster Dulles.

Tuy vậy, chính sách đối ngoại không phải là mối bận tâm thường trực của Diệm. Để yên tâm, ông quan tâm sâu sắc đến thế giới quanh mình, và đặc biệt chú ý tới diễn biến ở các nước có ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam. Nhưng Diệm và các đồng nghiệp chủ chốt của mình trong chính phủ là những tay chơi nghiệp dư thật sự về chính sách đối ngoại. Nhìn chung, Diệm giảm thiểu tầm quan trọng của tình hình quốc tế đối với đất nước mình, và đánh giá thấp những đóng góp mà một nền ngoại giao mang tính xây dựng có thể đem lại cho sự nghiệp của chính ông ta. Ông nắm bắt tin tức khá tốt về các sự kiện, nhưng thường không nắm được tầm quan trọng thật sự của chúng. Thường thì ông đơn giản chỉ là thờ ơ với những gì các cường quốc nước ngoài nghĩ về tình hình Việt Nam; đôi khi ông lại phản ứng dữ dội với các bình luận ở những nước khác, và thăm dò liên miên để tìm kiếm ý nghĩa giấu dưới những phát ngôn chính thức thường lệ nhất. Thói quen làm việc lộn xộn của Diệm gây trở ngại nghiêm trọng cho việc nghiên cứu có hệ thống đối với các vấn đề chính sách đối ngoại, hoặc với việc nghiên cứu xuyên suốt cần có để chuyển tải những ý tưởng đơn thuần thành hành động có suy tính. Hơn nữa còn có khuynh hướng thâm căn cố đế là cá nhân hóa và cảm xúc hóa quan hệ với các nước khác. Các tiêu chuẩn đạo đức hà khắc của Diệm thường gây cản trở. Ông vô cùng khinh thường Thái tử Sihanouk của Campuchia và Tổng thống Sukarno của Indonesia, ít nhất một phần là do ông không ủng hộ họ về mặt cá nhân. Không may là sự không tán thành này ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngoại giao của VNCH với cả hai nước.

Nhưng cách giải thích quan trọng nhất cho sự thờ ơ tương đối với chính sách đối ngoại là bản thân Diệm phải chú tâm vào các vấn đề nghiêm trọng ở mặt trận đối nội, thu hút tâm trí và năng lượng của ông đến mức không còn quan tâm đến điều gì khác: thiết lập và củng cố sức mạnh chế độ, xử lý dòng người tị nạn từ miền bắc, xử lý các bè phái và lập hòa bình cho đất nước, áp dụng biện pháp khôi phục kinh tế ở miền nam. Trên tất cả là mối đe dọa sống còn, bao trùm và thường trực từ miền bắc Cộng sản, một đe dọa mà sau năm 1957 đã chuyển thành cuộc chiến tranh du kích liên tục mở rộng trong lãnh thổ VNCH nhằm lật đổ chế độ Diệm. Trong hoàn cảnh đó, việc chú ý đến chính sách đối ngoại chỉ là lúc có lúc không. Các giai đoạn quan ngại mạnh mẽ xen kẽ với những thời kỳ gần như là lơ là, và tiêu chuẩn chủ yếu [cho khác biệt này-ND] thường là mối quan hệ trực tiếp của các vấn đề ngoại giao với tình hình nội bộ và việc duy trì chế độ. Các chủ đề nhận được chú ý hơn gồm có hệ quả của các Hiệp định Geneva (trong giai đoạn ngay sau Geneva), sự rút lui của người Pháp (những năm đầu), sự công nhận quốc tế và xây dựng tính hợp pháp (đặc biệt trong những năm 1950), quan hệ với Hoa Kỳ (một vấn đề thường xuyên), Campuchia, và luôn luôn có vấn đề tiến thoái lưỡng nan khủng khiếp trong cách xử lý với miền bắc. Nhưng trong khi có các chính sách đơn lẻ để giải quyết từng trường hợp cụ thể, hầu như không có gì trong chính sách toàn diện nhằm xây dựng hướng đi của cả nước trong tình hình thế giới.

Đã có một vài nỗ lực để xây dựng một cơ quan đối ngoại hiệu quả và phục vụ ngoại giao chuyên nghiệp, nhưng không đạt được mấy thành tựu. Diệm và các Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, Vũ Văn Mẫu đều không có tài về phục vụ ngoại giao; và một nhóm các “gia đình dòng dõi” nắm vị trí then chốt do các chế độ Bảo Đại trước đó chỉ định. Khâu tổ chức bị thiếu vắng, và trong hầu hết các trường hợp, những phái viên này thường dùng bài nhắc vở từ các đồng nghiệp Pháp ở nhiều thủ đô khác nhau nhiều hơn là từ chính phủ của mình ở Sài Gòn. Nhiều thanh niên trẻ có khả năng được chính phủ Diệm đưa vào phục vụ ngoại giao, trong số đó có thể kể đến Trần Kim Phượng, người đã thể hiện vô cùng tốt trong nhiều năm ở Kuala Lumpur và Singapore. Năm 1959, cùng với một số người có cùng suy nghĩ mới được tuyển dụng vào phục vụ ngoại giao, ông nộp đơn từ chức cho Diệm và Nhu trong một phản ứng đầy xúc cảm trước mối hận thù giữa các gia đình trong bộ ngoại giao. Đơn từ nhiệm của ông bị từ chối và ông tiếp tục vị trí của mình.[3]

Tương đối ít cá nhân trong cơ quan ngoại giao được cử ra nước ngoài để được đào tạo có hệ thống. Diệm đảm bảo là các thủ đô quan trọng nhất có những đại sứ tương đối có năng lực; nhưng về cơ bản, lựa chọn của ông mang đậm cảm tính. Do đó, Trần Văn Chương, một người Việt Nam yêu nước có lòng tự trọng là người bạn tin cậy và bạn tâm tình của Diệm (và là cha của Madame Nhu), được cử sang Washington, nơi nhiệm vụ cơ bản của ông là đảm bảo Mỹ tiếp tục ủng hộ chế độ Diệm.[4] Em trai của Diệm, Ngô Đình Luyện, được bổ nhiệm là Đại sứ lưu động ở châu Âu, với trách nhiệm cụ thể ở cả London và Paris. Hoàng tử Bửu Hội phục vụ như đại diện của VNCH ở vô số hội nghị quốc tế. Nhưng ở những nơi khác thì việc bổ nhiệm ngoại giao thường là để gạt bỏ những người không mong muốn. Thường thì các sứ quán đầy những chính trị gia, công chức, sĩ quan quân đội và những người “lưu vong vàng” mà Diệm không còn tin cậy.[5] Mỗi đại sứ thường mang theo tùy tùng cá nhân; và mỗi người thực hiện nhiệm vụ theo cách riêng, với hướng dẫn chung chung từ Diệm và bộ ngoại giao. Trong hoàn cảnh đó, việc thực hiện một nền ngoại giao chuyên nghiệp, bài bản để theo đuổi một chính sách quốc gia được tính toán kỹ lưỡng (mà trong trường hợp nào đi nữa vẫn chưa tồn tại) hầu như là điều không thể, mặc dù các nhà ngoại giao Việt Nam đơn lẻ có những năng lực không phải nghi ngờ gì. Thậm chí đến cuối những năm 1960, cơ quan phục vụ ngoại giao của VNCH vẫn vụng về và hầu như không hiệu quả. Đây là một nguyên nhân lý giải cho chính sách đối ngoại của chế độ Diệm cũng như cho tính không hiệu quả về hành chính đặc trưng ở các cấp hoạch định chính sách của chính phủ.

Sự cần thiết phải liên kết

Diệm tiếp cận việc thực hiện chính sách đối ngoại với một số định kiến cơ bản. Có lẽ quan trọng nhất là việc ông tin chắc vào việc các nước nhỏ cần liên kết (với một nước lớn – NBT) một cách rõ rệt trong Chiến tranh Lạnh trên nền tảng realpolitik [chính trị hiện thực – ND] cũng như tin vào tính vô đạo đức của chính sách không liên kết.

Diệm đã có lần nghĩ khác. Một mặt ông luôn chống Cộng khủng khiếp song trong những ngày lưu vong, Diệm từng là người thể hiện ý tưởng về một lực lượng châu Á thứ ba trong tình hình quốc tế. Theo khái niệm này, các quốc gia mới độc lập của châu Á có thể đóng góp hiệu quả nhất cho hòa bình thế giới nếu can dự chính trị với một trong những bên đóng vai chính của Chiến tranh Lạnh. Ấn Độ là người lãnh đạo hợp lý của khối các quốc gia châu Á không liên kết này, và Diệm hình dung ra vai trò phù hợp của Việt Nam là một trong những nước nhỏ quan trọng ủng hộ sự lãnh đạo của Ấn Độ trên thế giới.

Tuy thế, khi nhận chức vào tháng 7/1954, Diệm đã thay đổi cơ bản tư duy của mình. Giờ đây ông thấy thế giới tất yếu bị chia ra làm ba phe: liên minh thế giới tự do, khối Cộng sản, và các nước không liên kết. Việt Nam nên nằm ở phe nào? Ông ngày càng quan ngại về tính dễ bị tổn thương về chính trị của một nước nhỏ như Việt Nam trước sự tấn công và lật đổ vô hạn của Cộng sản; và ông kết luận rằng cách duy nhất để rút ra khỏi thế tiến thoái lưỡng nan này là thông qua liên kết chặt chẽ với khối chống Cộng. Vận mệnh đáng tiếc của nước ông hiển nhiên đã tạo ra thay đổi này trong suy nghĩ của Diệm. Nhưng trong hoàn cảnh nào đi nữa thì việc chống cộng sản tích cực cũng thích hợp hơn với đặc điểm trí tuệ và cảm xúc của ông ta.

Về khía cạnh này, ta có thể nhớ rằng anh cả của Diệm là Ngô Đình Khôi và con trai ông đã bị phe Cộng sản chôn sống năm 1945; và Diệm là một tín đồ Công giáo La Mã mộ đạo, phản đối sâu sắc chủ nghĩa cộng sản về phương diện tôn giáo.

Trong Chiến tranh Lạnh, nơi trú ẩn của một nước nhỏ không phải là chính sách không liên kết mà là liên minh thân thiết với một cường quốc lớn chống Cộng. Trong trường hợp của Việt Nam, không thể giao vai trò cường quốc bảo vệ cho Pháp, một phần là vì hồ sơ lịch sử của Pháp ở Đông Dương và nỗi căm ghét mà Diệm có chung với đồng bào mình đối với chủ nghĩa thực dân Pháp. Là quốc gia cường mạnh nhất thế giới và là lãnh đạo của liên minh thế giới tự do chống chủ nghĩa cộng sản, Hoa Kỳ là lựa chọn hiển nhiên. Hơn nữa, đến năm 1954, liên minh chặt chẽ với Hoa Kỳ trở thành lựa chọn chính sách ngày càng thực tiễn với Việt Nam trong bối cảnh đầu những năm 1950, Washington ngày càng quan tâm hơn đến số phận Đông Dương. Do đó, Diệm chọn mối liên hệ với Mỹ và một khi đã chọn như vậy, ông ta không bao giờ từ bỏ điều đó trong định hướng quốc tế cơ bản của mình.

Cùng với thời gian, Diệm trở nên ám ảnh với việc cần phải có liên kết trong Chiến tranh Lạnh, và các quan điểm của ông có những hàm ý đạo đức mạnh mẽ. Những cân nhắc về đạo đức cá nhân có lúc còn chồng lấn lên các đòi hỏi của chính sách công. Chủ nghĩa cộng sản là xấu xa, do đó phải bị đánh bại bằng mọi phương tiện có trong tay. Diệm không thể hiểu tại sao các nhà lãnh đạo châu Á khác lại không nhận thức như vậy về mối hoạ Cộng sản và hệ quả đạo đức, chính trị của mối hoạ này đối với chính sách đối ngoại. Mặc dù ông nhìn thấy sự khôn ngoan trong việc nuôi dưỡng quan hệ thân thiện với các quốc gia đang nổi lên của châu Á cũng như của châu Âu và Mỹ Latin song cách tiếp cận của ông chẳng có gì giống với sự phân chia (các nước trên thế giới) sau này của Sukarno thành “các thế lực đang nổi mới” và “các thế lực cũ”. Các quốc gia mới độc lập nên chọn phe. Ông đồng ý với việc Ngoại trưởng Dulles lên án chủ nghĩa trung lập là sai trái về đạo đức. Các phái viên của VNCH ở nước ngoài do đó được hướng dẫn phải thuyết phục các chính phủ không liên kết nơi họ có nhiệm vụ cũng như các nhân vật hàng đầu ở những nước này về sự cần thiết phải có liên kết. Chuyện này khiến các nhà ngoại giao Việt Nam nhiều lần gặp rắc rối nghiêm trọng vì đã can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.[6]

Diệm cũng không đạt được nhiều tiến bộ trong việc cải đạo những người ngoại đạo. Ông đã đánh giá sai khả năng thuyết phục các nước không liên kết để chỉnh sửa định hướng quốc tế của họ theo hướng ủng hộ liên kết mở chống những người Cộng sản. Tuy không tạo được thay đổi ở những điểm đó, Diệm đã nhìn thấy việc đáng duy trì quan hệ thân thiện với các nước không liên kết miễn là họ thật sự không liên kết. Nhưng ông hoàn toàn khinh bỉ các chính phủ và lãnh đạo đi theo cả hai lề của con đường chính trị. Về mặt này, Sihanouk và Sukarno là những kẻ côn đồ hàng đầu. Ông cũng coi thường chả kém những bên thứ ba, ví dụ như những người Mỹ có thiện chí mà theo cách nhìn của ông, đây là những người cho phép các lãnh đạo Campuchia và Indonesia lừa bịp mình.

Với bản thân ông, VNCH nhất định và rõ ràng đứng trên mặt trần hàng đầu của liên minh thế giới tự do, dẫn đầu là Hoa Kỳ, trong cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản. Về phương diện này, Diệm nhiều lần nêu đi nêu lại quan điểm rõ ràng của mình. Một hệ quả thú vị của lập trường rõ rệt này là Diệm khen ngợi lộ liễu quan hệ chính trị của VNCH với Hoa Kỳ. Ông chào đón mối liên hệ Mỹ và dòng tài trợ khổng lồ về quân sự và kinh tế từ đó. Ông cũng chẳng ngần ngại thể hiện sự trân trọng ấy trong những dịp phù hợp. Nhưng ông không cảm xúc hoá thực tế. Trong phán xét của ông, Hoa Kỳ đơn thuần chỉ đang phục vụ lợi ích quốc gia của họ chứ không phải của Việt Nam khi viện trợ ồ ạt cho VNCH hay gánh các chi phí cho việc bảo vệ nó dưới cái ô liên minh SEATO (Khối phòng thủ chung Đông Nam Á – NBT). Điều đó cũng đúng, và nó đã kiềm chế đáng kể lòng biết ơn của Diệm với Hoa Kỳ.

Nguồn: William Henderson & Wesley R. Fishel, “The Foreign Policy of Ngo Dinh Diem”, Vietnam Perspectives, Vol. 2, No. 1 (Aug., 1966), pp. 3-30.

Biên dịch: Vũ Thị Hương Giang | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

(Còn tiếp phần 2, xuất bản ngày 26/2/2015)

(Nghiên Cứu Quốc Tế)

—————

[1] Đúc kết từ hơn hai thập niên hoạt động bí mật chống người Pháp và Cộng sản, trong đó ông học được không phải lúc nào cũng dựa được vào những đồng sự thân cận, Diệm có xu hướng phụ thuộc nhiều vào các thành viên trong gia đình và bạn bè thân hữu. Những người trong cụm này đôi khi thay đổi khi người nước ngoài rút ra hoặc bị rút ra khỏi Sài Gòn, và trong quá trình đó, khỏi các vị trí có ảnh hưởng trực tiếp và liên tục. Một số thành viên gia đình và bạn bè Việt Nam thân thiết đôi khi bị thay thế bởi các thành viên và bạn bè khác, và bị đẩy sang một bên vì nhiều lý do khác nhau. Không giống các lãnh đạo Thái Lan, những người có truyền thống rất sắc sảo trong việc dùng chuyên gia và cố vấn nước ngoài, Diệm chưa bao giờ thật sự biết cách tận dụng tối đa từ các cố vấn của mình. Quan hệ chung của họ thất thường tùy theo Diệm và, tùy hoàn cảnh, từ chỗ là bạn tâm tình đến người cố vấn và được cố vấn; hay đến người thầy và học trò (ở trường hợp cuối cùng thì người này lại có thể đóng vai người kia).

[2] Theo thứ tự, các ngoại trưởng của chế độ Diệm là Trần Văn Độ, 1954-55; Vũ Văn Mẫu, 1955-63; và Phạm Đăng Lâm, 1963.

[3] Những người khác nộp đơn từ chức khi đó cũng quyết định ở lại, trong khi một số người thật sự từ bỏ chức vụ và công việc chính phủ

[4] Trần Văn Chương đồng thời là Quốc vụ khanh trong nội các đầu tiên của Diệm, một vị trí cho thấy sự coi trọng của Diệm dàn cho ông.

[5] Ví dụ, Trần Chánh Thành, cựu Bộ trưởng Thông tin, Đại sứ tại Tunisia; Bùi Văn Thinh, cựu Bộ trưởng Nội vụ, Đại sứ tại Nhật Bản; Lâm Lễ Trinh, cựu Bộ trưởng Nội vụ, Công sứ tại Thổ Nhĩ Kỳ; Nguyễn Dương Đôn, cựu Bộ trưởng Giáo dục, Công sứ tại Italy. Tại các nước châu Á và châu Phi, vị trí thường dành cho những người trẻ hơn là người được đỡ đầu của Ngô Đình Luyện hoặc Trần Kim Tuyến, Giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị và xã hội Phủ tổng thống, và là cộng tác viên của Ngô Đình Nhu.

[6]  Ví dụ, Tổng Lãnh sự VNCH ở New Delhi là chủ đề của lời phàn nàn tuy không chính thức song có ngôn từ mạnh mẽ từ chính phủ Ấn Độ vì những mối liên đáng nghi ngờ của ông với những nhóm chính trị đối lập cực đoan ở Ấn Độ.

[7] Ngay từ giữa tháng 4/1954, Diệm đã hiểu rằng “người Pháp muốn hợp tác với Việt Minh để đạt được ngừng bắn nhằm trao cho Việt Minh các phần miền bắc và trung Việt Nam, những vùng tập trung đông dân cư và những nhân tố mạnh mẽ nhất cần có cho vị thế quân sự cũng như chính trị.” Đáp lại tình hình này, Diệm và nhiều đồng nghiệp theo chủ nghĩa dân tộc khác đã phát động phong trào trong người Việt ở Pháp và đồng thời ở Việt Nam để tổ chức bầu cử nhanh ra một quốc hội ở những vùng phi Cộng sản của đất nước nhằm chấm dứt chế độ Bảo Đại, thành lập một chính phủ có trách nhiệm, “công nhận độc lập của một Việt Nam thống nhất (đối ngược với phương án của Pháp nhằm thương lượng đình chiến với Hồ Chí Minh, vốn sẽ làm cho chúng ta mất miền bắc và miền trung),” thiết lập nền dân chủ và đáp ứng kêu gọi của Diệm nhằm tập trung toàn bộ dân số sau lưng ông cũng như sự nghiệp dân tộc này.  (Thư của Ngô Đình Diệm gửi Wesley R. Fishel, ngày 16/4/1954). Song các diễn biến Geneva diễn ra quá nhanh đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, và trong khi Bảo Đại bị thúc giục phải bổ nhiệm Diệm làm thủ tướng của mình, Diệm bị bủa vậy bởi những hạn chế về quyền tự do hành động khiến ông và chính phủ mới của mình không thể ảnh hưởng đến kết quả của các thảo luận ở Geneva. Hơn nữa, trong tình cảnh bấp bênh ở Geneva, như Diệm và các đồng bào buộc phải công nhận cho dù đau đớn, là sự dẫn đến nội chiến ở Việt Nam. Uy tính và vị thế quyền lực của các cường quốc đều liên quan và Việt Nam, nơi xảy ra đối đầu, chỉ là một con tốt mà thôi.

[8] Đọc những bình luận sau đây trong bài viết này. Những sự kiện bất thường trong giai đoạn Bình Xuyên đã dạy Diệm và em trai Ngô Đình Nhu rằng người Mỹ không phải lúc nào cũng suy nghĩ giống nhau, và rằng có thể khai thác sự chia rẽ giữa họ theo cách có lợi cho Việt Nam. Do đó, bất đồng giữa các sĩ quan của phái bộ quân sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn và các quan chức của đại sứ quán Mỹ cũng như phái đoàn Phát triển Quốc tế Mỹ (AID) ở đó được Ngô Đình Nhu khéo léo sử dụng sau năm 1960; và có những dấu hiệu cho thấy tình hình đó tiếp tục cả sau khi chế độ Diệm sụp đổ.

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Nguyễn Văn Thiệu, “Người Mỹ đã phản bội chúng tôi.”

“Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.” – Cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu.

Cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu về cuốn hồi ký của Kissinger và Chiến tranh Việt Nam

DCVOnline | Cuối năm 1979, tuần báo Der Spiegel số 50 đã đăng bài phỏng vấn cựu Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu, dài 9 trang, do hai biên tập viên Angels, John K. và Lohfeldt, Heinz P. Thực hiện. Chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc bản dịch sang Việt ngữ của Phạm Thị Hoài.

Cựu TT Nguyễn văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Der Spiegel tại tư gia ở Anh Quốc, 1979. Nguồn: Der Spiegel Số 50/1979, trang 197

                                                         Hòa bình của nấm mồ 
                   Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Spiegel 1979

Spiegel: Thưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để “bóp nát trái tim Hoa Kỳ”. Vì sao ông lại cản trở như vậy?

Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.

Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

Spiegel: Kissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ý. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy vì ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ý với các đề xuất của Mỹ chỉ vì ông chắc mẩm rằng đằng nào thì Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.

Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rõ rằng đối với người Mỹ đã đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ vì thế mà họ vội vã như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền hòa bình lâu dài.

Spiegel: Kissinger có ý cho rằng ông không thực sự muốn ký kết một thỏa thuận về hòa bình, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng ông đồng ý với nhiều đề xuất từ phía Mỹ – trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ vì trong thâm tâm ông không tin rằng hòa bình sẽ được ký kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đã bịp, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải ngửa bài lên?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ thì có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi thì phải ở lại Nam Việt Nam.

Chúng tôi có quyền chính đáng để đòi hỏi một hiệp định hòa bình toàn diện. Không phải là vài ba năm hòa bình, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.

Spiegel: Vậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái Bình Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?

Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đã không còn là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đã loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. Vì sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm dò, tiết lộ thông tin trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đã rồi.

Spiegel: Tức là ông đã nắm được tình hình?

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rất rõ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đã không hình dung sai điều gì và đã làm chủ tình thế. Không có gì phải lo lắng, và tôi đã rất vững tâm.

Spiegel: Khi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một mình và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.

Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, vì Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.

Spiegel: Và ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?

TToong thống Nixon và TT Thiệu tại Hội nghị Midway. Nguồn: Der Spiegel số 50, trang 198.
Tổng thống Nixon và TT Thiệu tại Hội nghị Midway, 1969. Nguồn: Der Spiegel số 50/1979, trang 199.

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đã hình dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã trình bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của mình.

Quan trọng hơn, tôi đã bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ý với tôi ở mọi điểm; về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía…

Spiegel: … và mang tính tượng trưng?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rõ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ý rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn thì chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy thì đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lý hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.

Spiegel: Mỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hãnh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng thì chúng tôi không thiếu.

Spiegel: Ông đánh giá thế nào về tình thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc “phi Mỹ hóa” cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đã thể hiện rõ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?

Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài Gòn vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đã nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch trình mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: “Hãy giúp chúng tôi giúp ông.” Tôi đáp: “Tôi giúp ông giúp chúng tôi.” Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.

Spiegel: Nhưng không đưa ra một lịch trình cụ thể?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.

Spiegel: Ở thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần thì Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?

Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đã ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

Spiegel: Có lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi ký của Kissinger cho thấy khá rõ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng “đình chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đã khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một kênh TV khác.”

Rõ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đã tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.

Spiegel: Ông đã oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng mình chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá trình đàm phán, còn sau khi ký kết thì Hà Nội phải rút quân.
Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi ký rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.

8/17/1972-Sài Gòn, Tổng thống Nam Việt Nam-Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu làm cho một điểm trong một cuộc họp với Mỹ cố vấn tổng thống Henry Kissinger tại Dinh Độc Lập. Trước đó trong ngày Kissinger tặng với các tư lệnh hàng đầu của Mỹ và các nhà ngoại giao. Hình: © Bettmann/CORBIS
8/17/1972 – Sài Gòn, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu trong một cuộc họp với Mỹ cố vấn tổng thống Mỹ Henry Kissinger tại Dinh Độc Lập. Trước đó trong ngày Kissinger đã hội ý với các tư lệnh hàng đầu và các nhà ngoại giao của Mỹ. Hình: © Bettmann/CORBIS

Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đã chấp thuận như Kissinger nói thì lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đã chẳng phản đối quyết liệt như thế.

Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đã tuyên bố rõ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó thì không có ký kết.

Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: “Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận.” Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.

Spiegel: Có lẽ Liên Xô không thể làm khác, vì Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ còn phủ nhận việc họ đã đưa quân đội chính quy vào miền Nam.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nhìn ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh thì chúng ta phải nhìn vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.

Spiegel: Ông có lập luận như thế với Kissinger không?

Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: “Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lãnh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đã ký kết thành công một hiệp định hòa bình với Liên Xô không?”

Spiegel: Ông ấy trả lời sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lý. Còn gì mà nói nữa.

Spiegel: Nhưng Kissinger thì có câu trả lời trong hồi ký. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, vì họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng “lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất.”

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được gì từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao.

Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, vì sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho mình là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ?

Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đã có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những gì Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi thì không. Vì thế mà tôi đã cương quyết đòi Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn hòa bình thì họ ở lại miền Nam làm gì?

Spiegel: Vậy Kissinger nói sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Còn nói gì được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và đảm bảo việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực thì họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.

Spiegel: Kissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đã đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, còn Sài Gòn thì muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi mình là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Bắc Việt giao nộp lãnh thổ. Tôi chưa bao giờ đòi có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?

Spiegel: Về vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đã đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi ký, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông còn chấp thuận.

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đã thay đổi lập trường và tìm cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách huơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: “Hình ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!” Hoặc: “Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ.” Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đã biết, tiết lộ thông tin cho báo giới và đặt tôi trước sự đã rồi.

Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: “Ông ta đòi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về.” Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: “Ông mà chống thì sẽ bị cắt viện trợ.”

Spiegel: Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới hình thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ý kiến ông trước.

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ý kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói “Không”, nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.

Spiegel: Bây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đã đồng ý rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ý tưởng đó ban đầu là của ai?

Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ý định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một mình. Đến khi phía Mỹ đề xuất thì chúng tôi sẵn sàng đồng ý, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rõ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, còn phía Mỹ thì hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.

Spiegel: Vì sao? Vì Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng vì chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ thì không đời nào chúng tôi đồng ý thực hiện chiến dịch tại Lào.

Spiegel: Kissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, vì gần như không có báo vụ viên nói được tiếng Anh.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có thì chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đã mất rất nhiều phi công trực thăng. Vì thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.

Spiegel: Tinh thần binh lính bị suy sụp?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả tiến độ của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng.

Spiegel: Kissinger nêu ra một lý do khác. Rằng ông đã lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó thì không đời nào họ đồng ý tham gia chiến dịch này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lý. Nếu TS Kissinger nói thế thì ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đã rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết gì?

Spiegel: Tức là ông đã thông báo cho họ?

Tâm hình đoạt giải (APME's 38th annual meeting) của phóng viên AP Holger Jensen chụp cảnh một quân nhân Việt Nam bán càng trực thăng tải thường để thoát khỏi mặt trận ở Hạ Lào.  Nguồn: Holger Jensen.
Tâm hình đoạt giải (APME’s 38th annual meeting, 21/10/1971) của phóng viên AP Holger Jensen chụp cảnh một quân nhân Việt Nam bán càng trực thăng tải thường để thoát khỏi mặt trận ở Hạ Lào. Nguồn: Holger Jensen.

Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức hình một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: “Nhát như cáy”. Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.

Spiegel: Một điểm gây rất nhiều tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi ký của Kissinger thì ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đã thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà còn ủng hộ đề xuất này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định hòa bình. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm thì hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.

Spiegel: Kissinger viết: “Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác.” Phía Mỹ đã không hiểu rằng ông đem những “chiến thuật né tránh” mà “người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc” ra dùng.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép mình dùng những thủ đoạn nào đó.

Spiegel: Khi Mỹ đã rút, còn Hà Nội thì được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đã thua trong cuộc chiến này?

Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đã hứa khi chúng tôi đặt bút ký hiệp định. Ngay cả khi ký, tôi đã coi đó là một nền hòa bình tráo trở.

Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. Vì hai lý do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

Nguồn: “Kathy Troia to General, 4/8/1975”, 6 lá thư TT Nixon gởi TT Thiệu từ tháng 10 đến tháng 12, 1972. Giải mật 2/1/1990

Nguồn: “Kathy Troia to General, 4/8/1975”, 6 lá thư TT Nixon gởi TT Thiệu từ tháng 10 đến tháng 12, 1972. Giải mật 2/1/1990

Thư của TT Nixon gởi TT Hiệu, 1973.
                                           Thư của TT Nixon gởi TT Thiệu, 5/1/1973

Thư TT Nixon gởi TT Thiệu tháng 1, năm 1973
                                    Thư TT Nixon gởi TT Thiệu 17 tháng 1, năm 1973

Spiegel: Mặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào.

Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được đảm bảo là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực lòng giữ lời hứa thì chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.

Spiegel: Về điều này thì ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, vì sau đó Tổng thống Mỹ không còn đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa thì đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.

Spiegel: Nếu Hoa Kỳ giữ lời thì theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.

Spiegel: Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?

Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đã ký kết, vì chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đã nói, mà hiệp định đó còn được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc đảm bảo.

Spiegel: Trong cuốn hồi ký, TS Kissinger có những bình luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông thì bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao “trí tuệ”, “sự can đảm”, “nền tảng văn hóa” của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào “thái độ vô liêm sỉ”, “xấc xược”, “tính vị kỷ chà đạp” và “chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng” trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. Vì thế, cuối cùng Kissinger nhận ra “sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực”. Ý kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét gì về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

Spiegel: Hay ông đã làm gì khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?

Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đã ngạc nhiên vì gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi mình là vô cùng quan trọng.

Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, vì thật chẳng bao giờ tôi có thể hình dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.

Spiegel: Như trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nhìn xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc phòng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đã rất bất ngờ vì Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.

Spiegel: Trong hồi ký, Kissinger phàn nàn là đã bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon còn quá lời hơn. Theo Kissinger thì Nixon đã gọi ông là “đồ chó đẻ” (son of a bitch)(1) mà Nixon sẽ dạy cho biết “thế nào là tàn bạo”.

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép mình đáp lại những lời khiếm nhã, thô tục đó của Nixon, vì tôi xuất thân từ một gia đình có nề nếp.

Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker thì đơn giản chỉ vì chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đã cần đến 4 năm, vậy vì sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong vòng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài lòng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ý kiến Quốc hội.

Spiegel: TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ “lòng oán hận độc địa”.

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đã có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.

Spiegel: Kissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn “thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng” của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?

Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.

Spiegel: Kissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu “theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường vòng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề”, rằng ông “chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện”.

Nguyễn Văn Thiệu: Hãy thử đặt mình vào tình thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đã thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những gì mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đã tin tưởng rằng đồng minh của mình sẽ không bao giờ lừa mình, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi.

Các ông có hình dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một.

Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị gì khác thì Kissinger phải trở lại hội ý với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy.

Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi trình ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định hòa bình sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?

Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đòi bản tiếng Việt, đòi bằng được. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đã soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế thì có chân thành và trung thực không?

Spiegel: Một số quan chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ý kiến của ông thì thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

Spiegel: Nhưng Kissinger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy.

Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ tìm cách ép chúng tôi phải đồng ý. Để họ có thể hãnh diện là đã thoát ra được bằng một “thỏa thuận danh dự”. Để họ có thề tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: “Chúng ta rút quân về nước, chúng ta đảm bảo việc phóng thích tù binh Mỹ.” Và ở ngoài nước Mỹ thì họ nói rằng: “Chúng tôi đã đạt được hòa bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự.”

Spiegel: Kissinger viết như sau: “Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh.”

Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nhìn miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay thì biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định hòa bình, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đã biện hộ cho ác quỷ.

Spiegel: Có bao giờ ông thấy một chút gì như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đã làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của mình, Kissinger viết rằng: “Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt.”

Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy thì tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy còn tỏ ý sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ còn sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.

Spiegel: Cá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực lòng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi thì nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đã lập công với miền Bắc thì may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền hòa bình thực sự với Hà Nội thì miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đã không như vậy. Nhìn vào những hậu quả của nền hòa bình ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục hình tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đã gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ấy đã đạt được. Đó là hòa bình của nấm mồ.

Spiegel: Xin cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

“Chúng ttôi sẽ không bao giờ quên các bạn”, cuộc rút quân đầu tiên của người Mỹ từ miền Nam Việt Nam năm 1969: chỉ một cử chỉ tượng trưng. Nguồn: Der Spiegel Số 50, trang 208
“Chúng tôi sẽ không bao giờ quên các bạn”: cuộc rút quân đầu tiên của quân đội Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam năm 1969, chỉ là một cử chỉ tượng trưng. Nguồn: Der Spiegel Số 50, 1979, trang 208

Angels, John K. và Lohfeldt, Heinz P. | Phạm Thị Hoài dịch

Nguồn: Bản Đức ngữ, Angels, John K. và Lohfeldt, Heinz P.,“Die Amerikaner haben uns verraten”, Nguyen van ThieuDer Spiegel No. 50 / 10.12.1979, pages 197-213.

DCVOnline minh hoạ và phụ chú

DCVOnline:

(1) Tổng thống Mỹ Richard Nixon cũng đã gọi Thủ tướng Canada Pierre E. Trudeau là “lỗ đít” (“an asshole”), “thằng chó đẻ” (son of a bitch), “đồ trí thức tự cao” (pompous egg-head); trích “Nixon tapes include testy Trudeau chat”, Lee-Anne Goodman, The Canadian Press, Published on Mon Dec 08 2008.

(DCVOnline)